Chủ Nhật, 30 tháng 3, 2014

THẤU ĐỊA KỲ MÔN - TỬ PHỤ, TÀI QUAN, LỘC MÃ QUÝ NHÂN ( Kiến thức cao cấp của phái tam hợp )




Chào các bạn !
Mình mở topic này nhằm khai sáng phần nào môn phong thuỷ của phái tam hợp một phái phong thuỷ lâu đời  mà lâu nay bị huyền không phái lên  án oan là nguỵ  phái !
Thật khi đào thật sâu thì phái nào cũng có gốc từ đồ thư và tiên hậu bát quái !
Mình không có tham vọng làm rõ mâu thuẫn giữa hai học phái này . Cái này để đời sau nữa phán xét . Hoặc khi nào các bạn có công phu thâm hậu của cả hai trường phái thì các bạn sẽ hiểu .
Để hiểu được topic này ban phải có kiến thức về KỲ MÔN ĐỘN GIÁP !

SÁCH .http://www.mediafire.com/?zndtke1c6y12dff

Mình cũng không viết thêm gì  vì  văn chương có hạn  , Mình chỉ có mỗi một việc là liên kết các điều chỉ dạy thâm sâu của các bậc tiền bối cho có trình tự ( Vì kiến thức cổ đã lâu đời mà lại nằm rải rác mỗi quyển sách một ít  )
Các nho gia ngày xưa đã viết và chỉ dạy đầy đủ rõ ràng cả rồi . Dù mình có muốn viết thêm cũng chỉ làm rối thêm cho những bạn thực sự có tâm  tìm tòi học hỏi .
Topic này giới thiệu 2 tầng la kinh trong 36 tầng la kinh  của phái tam hợp và cách sử dụng nó !
Sách : La kinh thấu giải

https://app.box.com/s/6n72eno7ef8wuxobqnnn

Hy vọng topic này  có duyên với các bạn ! 
TẦNG THỨ 14: THẤU ĐỊA KỲ MÔN ?
TỬ PHỤ, TÀI QUAN, LỘC MÃ QUÝ NHÂN

BÀI CA NGŨ NGÔN: TIÊN NGÔN XUYÊN SƠN HỔ
Phương hành thấu địa long
Hỗn thiên khai bảo chiếu
Kim thủy nhật, nguyệt phùng

Nghĩa là: Trước hết nói xuyên sơn hổ, rồi đi đến thấu địa long, tự nhiên trời mở sáng
như bảo kính soi, thì kim, thủy, nhật, nguyệt gặp nhau.
“Xuyên sơn hổ” là tiếp mạch của 72 long, “tiên thức” là xét cái lai mạch trước để biết
nhập thủ là long gì ? Không nói là long mà nói là hổ, đó là ý nghĩa của phép dùng “ngũ hổ”
làm nguyên độn để ứng khí hậu, “phương hành” là đã biết long nhập thủ rồi, thì sau mới có
thể làm việc thừa khí, tọa huyệt được, “thấu địa” tức là 60 long của tọa huyệt, với 72 long là
cái bên trong, cái ở ngoài, nên bảo là “tương biểu lý”, thâu: là như dùng cái ống thổi khói, để
khí thông vào huyệt, “xuyên” là như dùng sợi chỉ để xỏ vào lỗ kim, để được suốt tới; “hỗn
thiên” là cái hỗn thiên lục Giáp dùng làm độn khởi, để tìm cái sa thủy của tứ cát, tam kỳ, “bảo
chiếu” là như cái gương sáng, soi vào vật đó, có thể thấy đủ cả tứ cát tinh của hỗn thiên di
chuyển “kim, thủy; nhật, nguyệt” là 4 cấm tinh này hội hợp 1 chỗ, lấy đó làm tác dụng, để thu
sa, thủy, lai long của bản ở tọa huyệt hợp với tầng thứ 5 của la bàn, cùng luật lệ; trước hết
theo thời tiết của 6 Giáp, định ra 3 thời hậu: thượng, trung, hạ, sau khi đã chia ra 9 cung dùng
để độn Giáp, xem khởi Giáp Tý ở cung nào, sau đó mới đặt ra quẻ độn, biết quẻ đầu ở đâu,
bản long tới chỗ nào, tử, phụ, tài, quan nhân đó mà suy đoán. Nhật, nguyệt, kim, thủy theo đó
mà hội. Tam kỳ bát môn theo đó mà suy ra, thì biết hết sự của tinh độ nội quái.
DƯƠNG ĐỘN KHỞI TIẾT CA
Đông chí, kinh chập, nhất thất tứ
Tiểu hàn, nhị bát ngũ vi thứ
Đại hàn, xuân phân, tam cửu lục
Lập xuân, bát ngũ nhị tương trục
Thanh minh lập hạ, tứ nhất thất
Ngũ thủy, cửu lục tam vô thất
Tiểu mãn, cốc vũ ngũ nhị bát
Nang chủng, lục tam cửu số chi

Nghĩa là: Thuộc về tiết đông chí và kinh chập thì khởi ở số 1, 7, 4. Tiết tiểu hàn thì khởi
ở số 2, 8, 5. Tiết đại hàn và xuân phân thì khởi ở số 3, 9, 6. Tiết lập xuân thì khởi ở số 8, 5, 2.
Tiết thanh minh và lập hạ thì khởi ở số 4, 1, 7. Tiết ngũ quỷ thì khởi số 9, 6, 3. Tiết tiểu mãn
và cọc vũ thì khởi ở số 5, 2, 8. Tiết mang chủng thì khởi ở số 6, 3, 9.
ÂM ĐỘN KHỞI TIẾT CA
Hạ chí, bạch lộ, cửu tam lục
Đại tuyệt, tứ thất, nhất cung trú
Đại thử, thu phân, thất nhất thứ
Tiểu thử bát nhị ngũ trung xuy
Lập đông, hàn lộ, lục tam cửu
Lập cung, nhị ngũ, bát cung tham
Tiểu hàn sương giáng, ngũ bát nhị.
Sứ thử nhất tứ thất nội hàm

Nghĩa là: Tiết hạ chí, bạch lộ ở số 9, 6, 3. Tiết đại hàn ở số 7, 1, 4. Tiết đại tuyết bạch lộ
ở số 4, 7, 1. Tiết tiểu thử ở số 8, 2, 5. Tiết lập đông hàn lộ ở số 6, 3, 9. Tiết lập thu ở số 2, 5, 8.
Tiết tiểu hàn sương giáng ở số 5, 8, 2. Tiết sử thử ở số 1, 4, 7.
KỲ MÔN ĐỘN GIÁP THỨC



TẦNG 17:
ĐỊNH TỨ CÁT, TAM KỲ, BÁT MÔN, CỬU TINH;
TỬ, PHỤ, TÀI, QUAN, HUYNH ĐỆ,
LỘC MÃ, QUÝ NHÂN, ĐÁO PHƯƠNG, ĐỊNH CỤC

Co dãn 60 long thấu địa, gọi là thiên Kỷ, hay thấu địa quang bảo đó là mộ thừa khí; đưa
khí tốt vào huyệt, Tiên Thánh nói: Núi sông có linh thiên mà không có chủ; hài cốt có chủ
nhưng không có linh thiêng. Người chết còn linh gì được ? Chẳng qua là cái khí thiêng của
núi sông tụ lại, là chân long kết huyệt, chung đúc khí tinh anh lại 1 chỗ, làm cho hài cốt ấm
áp, trong sạch, thì cái tinh khí ấy truyền vào con cháu, được thấm nhuần mà phát sanh ra

người tinh anh v.v… Như: 12 vị thiên can lai long, trong vòng đó có 1 huyệt gặp được vị châu
bảo, còn xê dịch sang hai bên tả, hữu là vị cô hư, sát diệu, không vong. Cách một huyệt hỏa
khanh ở bên tả và hữu lại có 2 huyệt có thể kết được. Như vậy là có 3 huyệt phát phúc. Như:
trong 12 long địa chi nhập thủ, thì mỗi long có 2 huyệt, là chân bảo. Trong 12 chi, mỗi chi có
5 chữ Tý, cộng lại thành 60 hoa Giáp hợp với 12 thiên can trước là 72 long xuyên sơn nhập
thủ chỗ tọa huyệt.
Khi đặt La kinh thì phải đặt ở chỗ kết huyệt, thừa đúng chỗ lý khí của loan đầu, mà chỉ
dùng xem 60 long thấu địa thôi, xuyên sơn long không cần phải dùng đến ở đó. Lấy thấu khí
vào quan, ở sau huyệt, khoảng 8 thước (thước Đông phương). Những long thuộc về địa chi, ở
giữa chỗ phùng (2 mép khép lại) là hỏa khanh, tối kỵ, không nên đặt quan tài vào đó, mà phải
thấu vào long huyệt châu bảo, ở 2 bên tả, hữu hỏa khanh. Học giả khi đăng sơn xem đất, trước
phải chiêm nghiệm những ngôi đất cũ, từ xưa nay, hãy còn danh tiếng tích, thì mới biết phép
thừa khí, phân biệt được xấu, tốt đã, sau mới đoạt được Thần công, thắng tạo hóa. Sau đây,
trình bày về 24 ngôi châu bảo thấu địa long và liệt đô về kỳ môn, tử, phụ, tài, quan, quý nhân,
lộc mã, ngũ thân, sa, thủy.
GIẢI THÍCH VỀ TỬ, PHỤ, TÀI, QUAN, HUYNH ĐỆ GỌI LÀ NGŨ THÂN
Thấu địa kỳ môn lục Giáp, chia làm 2 thứ độn là âm và dương
1- Dương sinh ở Giáp Tý, là dương độn thì thuận khởi lục nghi nghịch bá tam kỳ
2- Âm sinh ở Giáp Ngọ, là âm độn thì nghịch khởi lục nghi thuận bá tam kỳ.
Sự cần thiết là thu được sơn của tứ cát, phác được thủy của tam kỳ, tọa vào các phương
lộc, mã, quý nhân, phải kỵ cho ngũ hành quan sát tránh chỗ âm, dương, sai thác, bỏ những
tinh thần án phục, thì lấy được những độ thanh kỳ của bát can. Lấy đó mà lượng sa, tính thủy
thì không sai. Phép định huyệt thì lấy hỗn thiên Giáp Tý làm chủ trong 60 long, 12 chi, mỗi
chi chiếm 5 ngôi. Chia các tinh độ thuộc ngũ hành của 6 Giáp Tý ra, thừa khí ở đó. 60 thấu
địa long, tọa huyệt làm nội quái, do hỗn thiên Giáp Tý để xét sơn thủy tốt, xấu làm cần thiết,
lấy quý nhân, lộc mã, hoặc tam kỳ là Ất, Bính, Đinh, tứ cát là kim, thủy, nhật, nguyệt. Ngũ
thân là sa, thủy, tử, phụ, tài, quan, huynh đệ để tọa huyệt, hợp được sơn của 8 phương. Nếu
được kim, thủy, nhật, nguyệt chiếu hướng, hoặc được tam kỳ tú bạt là sơn hữu lực, hoặc các
phương tử, phụ, tài, quan, huynh đệ, có cao phong viên tú hữu lực; hoặc quý nhân, lộc mã
cũng phù hợp hóa là đất thượng hạng. Quyết định phát xuất công hầu, khanh tướng, sinh
người trung trinh, nhân hậu, anh tài. Còn nếu hợp được tam kỳ, tứ cát, tất sinh ra người kinh
khôi, hào kiệt, liệt sĩ, anh hùng. Pháp này đời nay hiếm người biết đến.
Tiên Thánh tạo ra các quẻ kỳ môn là để sử dụng các tinh độ biết cách tự nhiên mà xuất.
Các học giả hậu thế phần nhiều là chưa biết nay lục ra thêm 4 tầng để khỏi bị thất truyền,
dùng hay không tùy ý.


Khí Bính Tý ở chính long Nhâm, là tiết đại tuyết, hạ cục, khởi đầu từ Giáp Tý, Mậu
Thân là phù dâu, là nghịch độn tại cửu cung, là quẻ trạch thủy khổn , thuộc kim, sơ hào là
khuê mộc lang chủ trì (trì thế)


Khí Canh Tý ở chính long Tý
Tiết đông chí, khởi Giáp Tý ở cung thất (cung 7)
Giáp Ngọ ở cung Khảm, là phù đầu
Quẻ Chấn, là quẻ lôi thủy giải thuộc mộc
Hào 2 là tâm nguyệt hồ trì thế


Đinh Sửu khí ở chính quy long, Tiết tiểu hàn, hạ cục được quẻ phong thủy hoán, ngũ
cung khởi Giáp Tý, Giáp Tuất là phù đầu. Kiền cung thuận độn thuộc hỏa, ngũ hào. Mão nhật
kê trì thế.



MẬU DẦN CHÍNH KHÍ CẤN LONG




Hình ảnh
Hình ảnh
Hình ảnh

Hình ảnh

Hình ảnh

Hình ảnh

Hình ảnh

Hình ảnh
Hình ảnh
Hình ảnh

Hình ảnh
Hình ảnh

Hình ảnh
Hình ảnh

Hình ảnh
Hình ảnh

Hình ảnh
Hình ảnh

Hình ảnh



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét