Thứ Năm, ngày 13 tháng 10 năm 2016

Ăn chay là vì lý do Tâm Linh

Ăn chay là vì lý do Tâm Linh nó là cánh cửa đầu tiên hướng tới cuộc sống vĩnh cửu , Thoát ly khỏi . Trần gian thế tục này . 
Nếu bạn có sự cảm nhận sâu sắc về thế giới xung quanh . Khi nghe con vật rên la lúc bị bắt hoặc bị giết , bạn mới thấy thật sự kinh khủng đến chừng nào . Sự biểu hiện đau đớn của nó chẳng khác gì chúng ta đâu !
Lý do thật sự đơn giản là vậy , Thế mà mấy cái loại đầu óc duy lý này viết ra cả một quyển sách chỉ để chứng minh có 1 điều . Ăn chay là ngu dốt sai lầm ! Đúng là bó tay ! 
http://dauhieuthoidai.blogspot.com/2011/08/huyen-thoai-chay-chuong-1.html

Chủ Nhật, ngày 28 tháng 8 năm 2016

Đạo sĩ tu luyện 300 năm trong núi sâu


























Trên thế gian này có tồn tại những người tu đạo, đặc biệt trong những núi sâu rừng già, họ đã từng sống rất lâu, có người đã sống mấy trăm năm, thậm chí mấy nghìn năm. Điều này nói ra có thể nhiều người sẽ không tin nổi … Dưới đây là câu chuyện được kể lại của một người như vậy.
Trước hết xin được nói rõ, bài viết này không phải là câu chuyện hư cấu. Những gì được viết được kể, hoàn toàn đều là những trải nghiệm chân thật, cảm ngộ chân thật của bản thân tôi. Các vị có thể tin, cũng có thể không tin, nhưng mong các vị hãy tu tích khẩu đức, đừng khởi tâm phỉ báng , tạo nghiệp chướng cho bản thân mình.
Những người bình thường nhìn thấy “300 năm” trong tiêu đề, nhất định sẽ cho rằng tôi đang khoác lác, nhưng tôi xin nói với các vị rằng, tuổi thật sự của tôi chính xác là 330 tuổi, cũng chính là nói rằng tôi sinh ra vào giữa những năm Khang Hy triều đại nhà Thanh. Kỳ thật, 330 tuổi cũng không thể nói là rất già, những người hơn 2.000 tuổi tôi đều đã đích thân gặp qua, nghe nói còn có những người sống trên 5.000 tuổi ở nhân gian, chỉ là không có cơ hội gặp được mà thôi.
Tôi là người Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên, giữa những năm Ung Chính, vì để tránh chiến loạn, cả nhà chúng tôi chạy nạn đến núi Đại Ba, miền bắc tỉnh Tứ Xuyên, nhưng không may gặp phải lở đất, cuối cùng chỉ có một mình tôi may mắn thoát được, năm đó tôi 30 tuổi. Về sau tôi bị lạc đường trong núi, tự mình đã đi lang thang trong suốt mười mấy ngày liền, ngay chính vào lúc sắp bị đói chết, một vị Đạo sĩ đã cứu sống tôi. Vị Đạo sĩ này chính là sư phụ của tôi sau này, lúc đó ông đã ở trong núi Đại Ba tu luyện hơn 700 năm. Từ đó, tôi liền đi theo ông bắt đầu tu luyện. Ở đây cần phải nói rõ, tôi và sư phụ tuy đều là Đạo sĩ, tu là Pháp môn Tam Thanh, nhưng chúng tôi không phải là Đạo giáo, không có một chút quan hệ gì với Đạo giáo cả.
Sư phụ của tôi là người của triều đại nhà Đường, tuy đã tu luyện hơn 700 năm rồi, nhưng ông nhìn còn trẻ hơn tôi lúc đó nhiều. Bởi ông đã tu đến cuối cùng rồi, dù có cố gắng thế nào cũng không tu lên trên được nữa, vậy nên đã thu tôi làm đồ đệ, truyền thừa Đạo chính thống trong môn này của chúng tôi. Mọi người nhất định sẽ không nghĩ được rằng, công pháp tu luyện trong môn này của chúng tôi, vô cùng vô cùng đơn giản, đặc biệt thích hợp cho những người lười biếng, bởi vì công pháp của chúng tôi chính là ngủ.
Sau khi sư phụ truyền công pháp cho tôi xong, lần đầu tiên tôi đã ngủ hơn một tháng, sau khi tỉnh dậy thân thể có những biến đổi rất lớn, gần như đã thay đổi thành một người khác vậy, khỏe mạnh hơn trước đây rất nhiều. Sau đó, ông lại bảo tôi đọc “Đạo Đức Kinh”, đọc xong kinh thư lại đi ngủ. Cứ không ngừng đọc kinh thư, nằm ngủ như vậy, một lần dài nhất, tôi đã ngủ một giấc hơn 2 năm. Cứ lặp đi lặp lại không ngừng như vậy, một mạch tu đến hơn 60 năm, cuối cùng tôi đã đạt đến cảnh giới tiểu thừa (thiên mục đã mở, đại chu thiên toàn bộ đều đã được đả thông). Lúc này tôi đã có được rất nhiều công năng đặc dị, ví như tịch cốc (nhịn ăn nhịn uống mà không mệt mỏi), thuật ban vận, đi lại trên không, tha tâm thông, thấu thị nhân thể, v.v….Cũng phải nói thêm, kể từ khi bắt đầu tu luyện, tướng mạo của tôi như dừng lại ở tuổi 30, mãi cho đến tận hôm nay cũng không có bất cứ sự thay đổi gì.
Tu đến cảnh giới tiểu thừa, sư phụ bảo tôi trở lại cõi người đi vân du. Sư phụ nói, nếu như tôi chìm đắm vào danh lợi thanh sắc, bị thế giới phồn hoa làm cho mờ mắt, thì không cần trở về núi nữa, tôi có thể tự mình chọn con đường sau này. Nếu như sau 3 năm, tôi vẫn không bị sa ngã, thì hãy trở về núi Đại Ba, ông sẽ chỉ đạo tôi tiếp tục tu luyện công pháp tiếp theo.
Vân du ở bên ngoài rất khổ, quy định cũng nhiều. Thứ nhất, trong cõi trần không được sử dụng bất kể công năng đặc dị nào, trước lúc xuống núi sư phụ đã khóa hết công năng của tôi, bao gồm cả tịch cốc, bởi trong thời gian vân du, tôi tự mình nghĩ cách giải quyết vấn đề ăn uống. Thứ hai, không được đụng đến tiền bạc, chỉ có thể thông qua phương thức xin ăn để có được thức ăn. Thứ ba, còn có rất nhiều giới luật, trộm cắp, tà dâm, uống rượu, v.v….giống như những quy định trong Phật giáo. Sư phụ có thể dùng thiên nhãn thông giám sát tôi mọi lúc mọi nơi, nếu như tôi phạm phải bất cứ quy định nào, thì sẽ không còn có cơ hội đi theo sư phụ tu luyện nữa.
Sau khi rời khỏi núi Đại Ba, tôi trước tiên đi đến Vị Nam vùng Thiểm Tây, sau đó lại đi Đồng Quan. Ở Đồng Quan, tôi cuối cùng đã phải tự giải quyết vấn đề ăn uống. Bởi vì tướng mạo của tôi là một người đàn ông khỏe mạnh của tuổi 30, xin ăn vô cùng khó khăn, thường hay bị mắng, chẳng có mấy ai đồng ý bố thí cho tôi cả. Ở Đồng Quan tôi đã làm thuê cho một nhà địa chủ họ Lưu, chỉ cần có chỗ ăn chỗ ngủ, không cần tiền công. Địa chủ rất lấy làm vui mừng, cũng đồng ý với tôi. Tôi cũng không có tâm trạng muốn đi những nơi khác, ở nhà địa chủ họ Lưu, yên bình trải qua 3 năm, rất may là không có phạm giới nào cả, thời hạn 3 năm đã hết, tôi lại trở về núi Đại Ba, bên cạnh sư phụ.
Những ngày tháng sau này chính là không ngừng tu luyện, cứ cách 35 năm một lần, đều sẽ phải xuống núi vân du mấy năm, có những lúc sư phụ sẽ cùng đi vân du với tôi, khi đó tôi không có cách nào làm biếng nữa, không thể sống thảnh thơi như ở nhà Lưu địa chủ nữa, mà mỗi ngày đểu cần phải ra ngoài xin ăn. Vân du nhiều năm như vậy, hết thảy chua ngọt đắng cay, phong ba bão tố của nhân gian đều đã trải qua hết cả, nhưng ý chí tu luyện của tôi trước sau không hề bị lay dộng. Đối với những thay đổi triều đại, thế sự biến hóa của thế gian, chúng tôi xưa nay đều không can thiệp, bao gồm cả những tai nạn và chiến tranh kia, chúng tôi trước sau không hề quản. Vì những thứ này đều là có định số, ai loạn động, thì người đó sẽ phải lãnh tai ương.
Tôi biết trong cõi trần có rất nhiều rất nhiều người có hứng thú với tu Đạo, nhưng họ không rõ được rằng tu Đạo cần phải chịu đựng rất nhiều cái khổ, phải trải qua bao nhiêu dày vò và ma nạn. Chỉ pha mấy ấm trà, hẹn vài người bạn, ngồi mà luận đạo, đó không phải là tu hành, mà là nghỉ ngơi. Tu hành thật sự, là phải trải qua rất nhiều cái khổ.
Sau khi tu luyện hơn 200 năm, nói một cách chính xác là 1 năm trước khi triều đại nhà Thanh sụp đổ, sư phụ của tôi qua đời, từ đó về sau môn phái của chúng tôi chỉ còn lại một mình tôi. Mục tiêu sau cùng của tu Đạo chính là đắc Đạo thành Tiên, để có được sự vĩnh hằng của sinh mệnh, nhưng pháp môn này của chúng tôi cao nhất chỉ có thể tu đến “ngũ khí triều thiên”, cách trường sinh bất lão vẫn còn một quãng rất xa. Sau khi sư phụ qua đời, thi thể ông không hề bị mục nát, tôi đem nó bảo tồn trong một ngôi miếu cũ ở Hán Trung, về sau nơi này bị chiến tranh phá hủy, nhục thân của sư phụ cũng bị hủy luôn trong đó. Thực ra, đây cũng không có gì phải nuối tiếc cả, chẳng qua chỉ là một lớp da thịt mà thôi.
Sau khi sư phụ mất, tôi phải độc tu một mình. Đối với một người tu luyện đơn độc mà nói, cái khổ lớn nhất, chính là cô quạnh và đơn độc. Có những lúc ngồi thiền một năm, sau khi xuất định được mấy ngày rồi lại nhập định tiếp, mười mấy năm không thấy một bóng người, không nói một lời nào là chuyện rất bình thường. Vì để khắc phục cô đơn buồn tẻ, tôi thích đi vân du, bắt đầu từ năm 1960, tôi vừa đi vân du vừa tiếp tục việc tu luyện của mình.
Đợi đến măn 1988, cái năm xảy ra vụ hỏa hoạn lớn ở núi Đại Hưng An, tôi cuối cùng đã tu đến cảnh giới cao nhất trong môn của chúng tôi là “ngũ khí triều thiên”. Lúc này, công năng đặc dị của tôi, đã đạt đến cao độ trước nay chưa từng có, trên cơ bản những công năng mà bạn từng nghe nói thì tôi đều có hết cả, hơn nữa công lực lớn mạnh, hoàn toàn không phải là thứ mà những người có công năng đặc dị trên thế gian kia có thể so sánh được. Hơn nữa từ đó về sau, những lúc vân du, tôi có thể không còn cần phải tuân thủ giới luật nữa, công năng đặc dị cũng có thể sự dụng tùy ý rồi, nhưng điều kiện trước hết là không được phép can thiệp vào bất cứ sự tình nào của thế gian con người, dẫu cho là một việc nhỏ rất là nhỏ nhặt cũng không được, nếu không sẽ gặp phải báo ứng, hoặc công năng bị mất đi.
May mắn hữu duyên gặp sư phụ thứ hai
Sau khi tu thành rồi, tôi du ngoạn ở nhân gian 5 năm, đi khắp hết mọi ngõ ngách trên thế giới, đã quen biết rất nhiều những người tu luyện như tôi, nếm đủ cuộc sống các dạng các loại, nhưng lại cảm thấy những thứ đó đều không có ý nghĩa gì nữa. Thế là, vào trung tuần Tháng 8/1993, tôi ngồi một chuyến xe lửa trở về miền bắc tỉnh Tứ Xuyên, chuẩn bị tiếp tục sống cuộc sống ẩn cư của mình, đợi khi cơ duyên chín mười rồi, cũng thu nhận một đồ đệ, truyền thừa đạo pháp chính thống trong môn pháp này của mình. Chính là trên chuyến xe lửa này, tôi đã gặp được một người đã thay đổi vận mệnh của tôi. Lúc đó, người này và tôi cùng ngồi ở một toa tàu, chúng tôi vừa nhìn mặt nhau thì đã biết đôi bên đều là người tu đạo, người này trông rất là trẻ, mặt mày hiền hậu, lúc nào cũng như đang mỉm cười.
Tôi đi đến trò chuyện với ông ấy một lúc, thì lại không khỏi hết sức kinh hoàng, bởi tôi phát hiện, công lực của người này cao đến nỗi, quả thật là tôi không cách nào tưởng tượng ra được. Rốt cuộc là cao đến mức nào, bây giờ tôi cũng không nói ra được, bởi vì đạo hạnh của tôi, căn bản không có cách nào thăm dò vấn đề này được, bản thân tôi ngay cả cái ngón chân của ông đều không sánh được. Về sau, tôi đã bái người này làm thầy, ông đã truyền cho tôi công pháp trong pháp môn đó của ông.
Dưới sự giúp đỡ của sư phụ thứ hai, chưa đến một tháng, tôi đã đột phát giới hạn trong pháp môn trước đây của tôi, thành công tu đến được cảnh giới “tam hoa tụ đỉnh”. Cũng chính là nói, từ sau lần này, tôi đã đạt được thân thể bất tử.
Bây giờ, tôi lại đến cõi người vân du, đây là lần vân du sau cùng của tôi, có nhiều tâm nguyện cần phải hoàn thành, tôi lên mạng viết ra bài viết này, thuật lại và tiết lộ một vài lí luận có liên quan đến công năng đặc dị và tu đạo, đây cũng chính là một trong những tâm nguyện của tôi. Những người có duyên với tôi, tự nhiên sẽ đọc được, tự nhiên sẽ có những thu hoạch, những thể ngộ của bản thân mình, cũng coi là một phương thức đặc thù trong thệ nguyện “cứu thế độ nhân” của ngày xưa.
Dưới đây, tôi xin được nói rõ một số vấn đề mà người thường được phép biết đến, cũng để cho đọc giả làm một nghiệm chứng thật giả đối với bài viết này.
Trên thế giới thật sự có Thần, Phật, yêu, ma tồn tại không?
Đây là điều không cần phải nghi ngờ gì cả. Hình thức tồn tại của các sinh mệnh nhiều đến nỗi không thể lường được, cũng không có cách nào tính toán được, những sinh mệnh có sắc thân giống như con người này, trong vũ trụ chỉ là số rất ít. Tôi đi trên phố, những người bình thường làm sao biết được thân phận thật sự của tôi? Cũng giống như vậy, thử hỏi có bao nhiêu chư Thần chư Phật, kể cả yêu ma quỷ quái lấy hình hài của người thường đi lại trên thế gian, cái này tôi cũng không biết được.
Có rất nhiều người khinh rẻ những người ăn mày, thậm chí có kẻ còn quá đáng hơn lại đi chà đạp những người ăn mày, nhưng tôi xin nói với các vị rằng, rất nhiều người ăn mày đều là có nguồn gốc không hề tầm thường, không phải là những người tu đạo đến cõi người vân du, thì chính là những vị Thần mang theo sứ mệnh mà đến. Có thể nói như vậy, chư Thần nhiều đến nỗi không chỗ nào không có, câu nói “ngẩng đầu ba thước có thần linh” này, hoàn toàn là sự thật, chỉ là những người bình thường không có thiên nhãn thông, nhìn không thấy mà thôi.
Vận mệnh của con người, sự phát triển của xã hội nhân loại, đều là Thần Phật đang khống chế cả. Một người bình thường ngay từ khi mới sinh ra, cho đến lúc chết đi, vận mệnh trong một đời này của họ đều là được an bài hết cả rồi, dẫu cho là sự việc hết sức nhỏ nhặt như rụng một sợi tóc, đều là đã được an bài kỹ lưỡng trước đó cả rồi. Một người trong xã hội nên làm những gì, nên có những gì, từ sớm đã có định số, sự nỗ lực của con người, cơ bản là đang đi trên quá trình đã được định sẵn từ trước.
Các vị ắt hẳn sẽ không tin, các vị có thể cảm thấy rằng rất nhiều thứ của mình đều là thông qua phấn đấu nỗ lực mà có được, kỳ thật, dùng công năng mà nhìn, quá trình phấn đấu của con người, đều là những vị Thần nắm giữ vận mệnh của con người, ở đằng sau thao túng các vị làm, con người chính là giống như con rối. Chư Thần dùng các loại quan niệm, tình cảm, dục vọng, cho đến cả những sự việc mà mọi người cho là ngẫu nhiên, để mà điều khiển hành vi của con người. Những động vật khác cũng đều giống như con người vậy, cũng đều là được chư Thần thao túng như vậy cả.
Tiểu Thiện, dịch từ NTDTV.com

Thứ Sáu, ngày 19 tháng 2 năm 2016

Sự huyền bí của Phật đạo với vũ trụ học hiện đại !

Cách đây 2500 năm trong kinh đạo Phật đã ghi lại những thế giới , những  thiên hà xa xôi . Tuy từ ngữ diễn đạt khác nhau giữa kinh văn cổ và thuật ngữ hiện đại nhưng rõ ràng thiên văn học bây giờ đang từng bước mò mẩm vào thế giới N chiều mà các vị thánh đã biết rõ từ lâu !
Một đoạn trích từ kinh DUY MA CẬT nói về những trái đất xa xôi ngoài trái đất chúng ta !

Bấy giờ, Xá Lợi Phất nghĩ rằng:
-Sắp đến giờ ăn. Các Bồ Tát sẽ thọ thực ở đâu? Duy Ma Cật biết ý, nên nói rằng:
-Phật thuyết bát giải thoát. Nhơn giả đã thọ hành. Há có xen cái tâm muốn ăn mà nghe pháp ư! Nếu muốn ăn, hãy đợi giây lát, tôi sẽ cho ông được bữa ăn chưa từng có. Duy Ma Cật liền nhập chánh định. Dùng sức thần thông thị hiện cho đại chúng thấy cõi phương trên, cách bốn mươi hai hằng sa quốc độ, có Phật Hương Tích hiện ở cõi Chúng Hương. Mùi hương cõi ấy bậc nhất, siêu việt mùi hương trời người của các cõi Phật mười phương. Cõi ấy chẳng có tên gọi nhị thừa. Chỉ có chúng đại Bồ Tát trong sạch, đang nghe Phật thuyết pháp. Sự vật trong đó, tất cả đều dùng hương làm thành. Lầu các, vườn tược cho đến đất kinh hành đều có mùi hương. Mùi hương của cơm lan tràn khắp mười phương thế giới. Lúc ấy, Phật cùng các Bồ Tát đang ngồi ăn. Có các thiên tử cùng một danh hiệu gọi là Hương Nghiêm, đều phát tâm Vô Thượng Bồ Đề, cúng dường Phật và các Bồ Tát. Đại chúng nơi cõi này đều thấy rõ cả.
Duy Ma Cật hỏi các Bồ Tát rằng:
-Các nhơn giả! Vị nào có thể đến thỉnh cơm của Đức Phật ấy? Do sức oai thần của Văn Thù, nên cả chúng đều im lặng.
Duy Ma Cật nói:
-Này các nhơn giả! Chẳng tự hổ thẹn sao?
Văn Thù nói:
-Như lời Phật dạy, chớ khinh sơ học.
Khi đó, Duy Ma Cật chẳng rời chỗ ngồi. Trước mặt đại chúng hóa ra vị Bồ Tát tướng tốt rực rỡ, oai đức thù thắng hơn cả chúng trong hội, mà bảo rằng:
-Ông hãy đến cõi Phật Chúng Hương, bạch như lời tôi đây:
"Duy Ma Cật đảnh lễ dưới chân Thế Tôn, và vô cùng cung kính tỏ lời hỏi thăm sự ăn ở hằng ngày, ít bệnh, ít phiền não, khỏe mạnh chăng? Mong được cơm thừa của Phật, đem về cõi Ta Bà thí làm Phật sự. Khiến kẻ ưa pháp tiểu thừa được vào đại thừa. Cũng khiến cho tiếng tăm của Như Lai ai cũng được nghe."
Khi ấy, đại chúng trong hội đều thấy hóa thân Bồ Tát bay lên phương trên, đến cõi Chúng Hương đảnh lễ chân Phật và lập lại lời Duy Ma Cật như trên. Các đại sĩ cõi ấy thấy hóa thân Bồ Tát, tán thán việc chưa từng có, liền hỏi Phật:
-Thượng nhơn này từ đâu đến? Cõi Ta Bà ở chỗ nào? Thế nào gọi là kẻ ưa pháp tiểu thừa?
Phật bảo:
-Nơi phương dưới cách bốn mươi hai hằng sa cõi Phật, có thế giới Ta Bà là ngũ trược ác thế. Hiện có Phật Thích Ca, đang vì những chúng sanh ưa pháp tiểu thừa, diễn giảng Phật pháp. Ở đó, có vị Bồ Tát tên là Duy Ma Cật, trụ nơi giải thoát bất khả tư nghì. Vì thuyết pháp cho các Bồ Tát, nên sai hóa thân đến khen ngợi danh hiệu ta, và tán thán quốc độ này, khiến các Bồ Tát ấy tăng thêm công đức.
Các Bồ Tát hỏi:
-Vị đó như thế nào, sao có sức công đức vô úy hóa ra Bồ Tát thần túc như thế?
Phật bảo:
-Thần lực của Duy Ma Cật rất lớn. Thường sai hóa thân đến khắp cõi mười phương thí làm Phật sự để lợi ích chúng sanh.
Tức thì Hương Tích Như Lai dùng bát Chúng Hương đựng đầy cơm hương trao cho hóa thân Bồ Tát.
Khi ấy, chín triệu Bồ Tát kia đều nói:
-Chúng con muốn đến cõi Ta Bà cúng dường Phật Thích Ca và muốn gặp Duy Ma Cật với các Bồ Tát cõi ấy.
Phật bảo:
-Được thôi! Nhưng phải thu nhiếp mùi hương của các ngươi. Chớ khiến chúng sanh cõi kia khởi lòng mê đắm. Lại nữa, hãy bỏ hình dạng của các ngươi. Chớ khiến những người cầu Bồ Tát thừa cõi kia sanh lòng hổ thẹn. Và các ngươi đối với cõi ấy chớ khởi tâm khinh chê mà tự chướng ngại. Tại sao? Mười phương quốc độ đều như hư không. Chư Phật vì muốn hóa độ những kẻ ưa pháp tiểu thừa, nên chẳng hiện cõi thanh tịnh ấy thôi.
Khi hóa thân Bồ Tát thọ lãnh bát cơm xong, cùng với chín triệu Bồ Tát thừa oai thần Phật và thần lực của Duy Ma Cật, ở nơi cõi ấy bỗng nhiên biến mất, chốc lát đến nhà Duy Ma Cật. Lúc đó, Duy Ma Cật liền hóa ra chín triệu tòa sư tử tốt đẹp như trước, các Bồ Tát đều an tọa.
Hóa thân Bồ Tát đưa bát cơm hương cho Duy Ma Cật. Mùi hương của cơm tỏa khắp thành Tỳ Da Ly và đại thiên thế giới. Các Bà La Môn và cư sĩ trong thành Tỳ Da Ly ngửi được mùi hương, thân tâm khoan khoái, tán thán việc chưa từng có.
Trưởng giả Nguyệt Cái cùng với tám mươi bốn ngàn người đến nhà Duy Ma Cật, thấy trong phòng đông đảo các Bồ Tát và những tòa sư tử cao rộng trang nghiêm, đều rất vui mừng, đảnh lễ các Bồ Tát và đại đệ tử rồi đứng qua một bên.
Các địa thần, hư không thần và chư thiên cõi dục giới, sắc giới ngửi được mùi hương cũng đều đến nhà Duy Ma Cật.
Bấy giờ, Duy Ma Cật bảo Xá Lợi Phất và các vị đại Thanh Văn rằng:
-Các nhơn giả cứ tùy ý dùng cơm cam lồ của Như Lai, vì cơm nầy do đại bi sở huân, nếu có ý hạn lượng mà ăn thì chẳng thể tiêu.
Có hàng Thanh Văn lại nghĩ rằng:
-Cơm này ít thế làm sao đủ cho đại chúng ăn?
Hóa thân Bồ Tát rằng:
-Chớ dùng tiểu đức, tiểu trí của Thanh Văn mà đo lường vô lượng phước huệ của Như Lai. Nước bốn biển có thể hết, chứ cơm này thì vô tận. Dẫu cho tất cả mọi người đều ăn từng nắm cơm to bằng núi Tu Di, ăn mãi cho đến một kiếp cũng chẳng thể hết. Tại sao? Vì cơm dư của Người đầy đủ các công đức như vô tận giới, định, huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến v.v... thì ăn mãi cũng không thể hết được.
Vì thế, một bát cơm cho tất cả chúng trong hội ăn đều no đủ, mà cơm vẫn còn dư. Các Bồ Tát, Thanh Văn, Trời người ăn cơm này rồi, thân thể an vui giống như các Bồ Tát ở cõi Nhất Thiết Lạc Trang Nghiêm, và từ lỗ chân lông phát ra mùi hương cũng như cây hương của cõi Phật Chúng Hương vậy.
Bấy giờ, Duy Ma Cật hỏi các Bồ Tát cõi Chúng Hương rằng:
-Hương Tích Như Lai lấy gì để thuyết pháp?
Các Bồ Tát đáp:
-Đức Như Lai cõi chúng tôi chẳng dùng lời nói, văn tự. Chỉ dùng Chúng Hương khiến các Trời người được vào luật hạnh. Bồ Tát mỗi mỗi ngồi dưới gốc cây hương, ngửi được mùi diệu hương ấy liền đắc Nhất Thiết Đức Tạng Tam Muội. Kẻ đắc Tam muội này đều đầy đủ tất cả công đức của Bồ Tát.
Các Bồ Tát ấy hỏi Duy Ma Cật rằng:
-Phật Thích Ca ở đây lấy gì để thuyết pháp?
Duy Ma Cật nói:
-Chúng sanh cõi này cang cường khó dạy, nên Phật thuyết pháp những lời cang cường để điều phục họ. Nào là địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ, là chỗ tai nạn, là nơi sanh của kẻ ngu. Hễ thân khẩu ý hành việc tà, thì bị quả báo hành việc tà của thân khẩu ý. Tạo mười ác nghiệp thì bị quả báo của mười thứ ác nghiệp. Hành sáu pháp bất thiện như bỏn xẻn, phá giới, sân hận, giãi đãi, loạn ý, ngu si thì bị quả báo của sáu pháp bất thiện (Bồ Tát có sáu Ba La Mật để đối trị). Cho đến các việc kiết giới, trì giới, phạm giới, nên làm hay chẳng nên làm, chướng ngại hay chẳng chướng ngại, đắc tội hay lìa tội, tịnh hay cấu, hữu lậu hay vô lậu, chánh đạo hay tà đạo, hữu vi hay vô vi, thế gian hay Niết Bàn v.v... Vì những người khó dạy tâm như khỉ vượn, nên dùng đủ thứ pháp kềm chế tâm họ mới có thể điều phục. Ví như voi ngựa chứng điều phục không được, phải đánh đập dữ tợn cho đến thấu xương rồi mới điều phục được. Cũng thế, chúng sanh cang cường khó dạy, phải dùng những lời đau khổ thiết tha mới khiến được họ đi vào luật hạnh.
Còn về thiên văn học hiện đại thì sau khi xem những video dưới đây bạn sẽ thấy rõ sự tương đồng !


Thứ Sáu, ngày 05 tháng 2 năm 2016

Cội nguồn kinh dịch !



Tặng người hữu duyên 
Tặng người hữu duyên 
Tặng người hữu duyên 
Tặng người hữu duyên 
Tặng người hữu duyên 
Tặng người hữu duyên 
Tặng người hữu duyên 
Tặng người hữu duyên 
Tặng người hữu duyên 
Tặng người hữu duyên 
Tặng người hữu duyên 

Hà Lạc và thiên văn !






Tặng người hữu duyên
Tặng người hữu duyên
Tặng người hữu duyên
Tặng người hữu duyên
Tặng người hữu duyên
Tặng người hữu duyên

Thứ Sáu, ngày 01 tháng 1 năm 2016

Kiến thức thiên văn học cổ

Đang rảnh thì vớ được đống của nợ này Linh Anh Nhuha Arc giúp với :
Bài Tập:
1, Thế nào gọi là Tiết, thế nào gọi là Khí? .Câu này chung chung có lẽ người đặt câu hỏi cũng chưa nắm vững vấn đề mình hỏi ! Tiết khí nói về thiên văn là từ ghép không thể phân chia Tham khảo ở ĐÂY !
Hãy nêu nguyên nhân gây ra độ dài ngắn (tính theo Ngày) của Tiết - Khí? ở ĐÂY có trả lời !
2, Mô tả ngắn gọn về vị trí của Mặt Trời, Mặt Trăng, Trái Đất, theo Thiên Văn Học hiện đại tại thời điểm mà xảy ra Sóc, Thượng Huyền, Vọng, Hạ Huyền.
Sóc trăng non là mùng 1 và những câu ca dao dân gian dưới đây nói rõ tìm hiểu kỹ hơn thì ở ĐÂY !
Đồng dao Việt Nam có bài về các pha Mặt Trăng cũng như thời gian trăng mọc:
Mồng một lưỡi trai
Mồng hai lá lúa
Mồng ba câu liêm
Mồng bốn lưỡi liềm
Mồng năm liềm giật
Mồng sáu thật trăng
Mồng bảy thượng huyền
Mười rằm trăng náu
Mười sáu trăng treo
Mười bảy sảy giường chiếu
Mười tám rám trấu
Mười chín đụn dịn
Hăm mươi giấc tốt
Hăm mốt nửa đêm
Hăm hai hạ huyền
Hăm ba gà gáy
Hăm bốn ở đâu
Hăm nhăm ở đấy
Hăm sáu đã vậy
Hăm bảy làm sao
Hăm tám thế nào
Hăm chín thế ấy
Ba mươi chẳng thấy
Mặt mày trăng đâu ?

3, Hãy nêu tên gọi và thứ tự của các sao trong chòm sao Bắc Đẩu.
4, Hãy nêu nguyên nhân gây ra Tháng Nhuận và nêu đặc điểm của Tháng Nhuận.
Tháng nhuận là gì đọc ở ĐÂY !
Còn những câu dưới thì không đáng để anh trả lời vì nó là kiến thức sơ đẳng của huyền học !
5, Mỗi học viên dùng thông tin Can-Chi năm sinh của mình:
5a, Hãy xác định các Can và các Chi có mối quan hệ theo Hợp, Phá, Xung, Hại với Thiên Can và Địa Chi năm sinh.
5b, Hãy xác định Ngũ Hành của Thiên Can và Địa Chi năm sinh. Xác định Ngũ Hành Nạp Âm của cặp Can-Chi đó.
5c, Hãy xác định Tam Hợp Cục và Tam Hội Cục theo Địa Chi năm sinh của mình.
* Xin nhờ admin huygen tạo giúp các topic theo các nhóm để các học viên post phần bài làm của mình vào đúng topic của nhóm mình.