Thứ Hai, 31 tháng 3, 2014

4) KỲ MÔN ĐỘN GIÁP ! ( Căn bản ).

KỲ MÔN ĐỘN GIÁP ! ( Căn bản ).


TIẾT THỨ NHẤT : TỔNG QUÁT VỀ ĐỊNH CỤC

1. Khái niệm ban đầu :

Cổ nhân đem 24 giờ trong 1 ngày phân làm 12 canh giờ gồm : Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Mỗi canh giờ tương đương với 2 tiếng đồng hồ hiện đại. Kỳ môn thời gia tức là ứng với mỗi canh giờ có 1 cách cục.

Theo lịch pháp của Kỳ Môn, bắt đầu từ tiết Đông Chí của năm Thượng nguyên đến tiết Đông Chí của năm thứ hai Thượng Nguyên là một chu kỳ tuần hoàn. Tổng cộng là 360 ngày, mỗi ngày 12 canh giờ, mà mỗi canh giờ lại có 1 cách cục, vị chi số cục của cả năm sẽ là 12*360 = 4320 (bốn ngàn ba trăm hai mươi) cục.

Nhưng trong 4320 cục này, thực tế mỗi cục lặp lại 4 lần. Lấy Cục thứ nhất dương độn mà nói thì : Đông Chí Thượng Nguyên, Kinh Chập Thượng Nguyên, Thanh Minh Trung Nguyên, Lập Hạ Trung Nguyên đều hoàn toàn giống nhau, đều thuộc Cục thứ nhất Dương độn. Lúc này, trong 4 nguyên tổng cộng là 20 ngày, nhưng đến Kỳ môn thời gia tính toán lại số cục, theo cách tính cứ mỗi Canh giờ có một cách cục sẽ không phải là 12*20 = 240, mà là 12*20/4 = 60 cục (nguyên nhân vì mỗi cục lặp lại 4 lần). Tức là 60 cục, vừa vặn chiếm hết một vòng từ Giáp Tý đến Quý Hợi, tức là một vòng của Thập thiên can phối với Thập nhị địa chi. Cục thứ nhất của Dương độn là như vậy, các cách cục khác cũng giống như thế này, tức cũng đều lặp lại bốn lần. Vì thế mà trong một năm có 360 ngày, 4320 giờ, nguyên nhân như đã giảng, các cách cục đều lặp lại 4 lần cho nên toàn năm chỉ còn có 4320/4 = 1080 cục.

Theo truyền thuyết thì kể rằng do Hoàng đế sai Hoàng Hậu làm ra 1080 cục. Lại theo truyện này, thì đến Khương Thái Công Lã Vọng đã đem 1080 cục này giản hóa thành 72 cục, việc giải 72 cục này cũng không khó, nguyên nhân là do tính toán theo 24 tiết khí, mỗi tiết khí 15 ngày, mỗi tiết lại phân làm 3 nguyên Thượng – Trung – Hạ, mỗi nguyên là 5 ngày. Mỗi tiết 3 nguyên, toàn năm 24 tiết khí thì số nguyên trong 1 năm là 24*3 = 72.

Toàn năm là 1080 cách cục, nhưng cũng không phải mỗi một cục đều cần 1 Bàn để biểu thị. Nếu như dùng Hoạt bàn để biểu thị, mỗi Hoạt bàn có thể biểu thị 60 cách cục của các canh giờ từ Giáp Tý đến Quý Hợi. cho nên 1080/60 = 18, dùng 18 hoạt bàn có thể biểu diễn tất cả cách cục của giờ trong cả năm. Tổng 18 cục, chính là DƯƠNG ĐỘN 9 CỤC, ÂM ĐỘN 9 CỤC. (Dương độn cửu cục, âm độn cửu cục)

Tuy nói là Kỳ môn thời gia, cũng không thể không nói đến ngày (Kỳ môn nhật gia). Do Nhật can của Ngày khác, sẽ nảy sinh việc khác nhau về Thời Can. Như ngày Giáp Kỷ, với ngày Ất Canh giờ Tý đều không giống nhau, Ngày Giáp Kỷ thì giờ Tý là Giáp Tý, ngày Ất Canh thì giờ Tý là Bính Tý. Cho nên mỗi Canh giờ sẽ xác định một số cục, phụ thuộc vào Tiết khí và Nhật can. Tức là phải xem mỗi Giờ của mỗi ngày thuộc tiết khí nào, là xem thuộc nguyên nào trong tiết khí này, Thương nguyên, trung nguyên hay hạ nguyên.

2. Kỳ môn định cục :

Theo phương diện tổng quát mà nói thì bắt đầu từ tiết Đông chí đến hết tiết Mang chủng là Dương độn, Từ Hạ chí đến hết tiết Đại tuyết là âm độn. Quan hệ giữa Tiết khí và số thứ tự của cục như sau :

Ca quyết :

Dương độn:

Đông chí, kinh chập nhất thất tứ, tiểu hàn nhị bát ngũ,

Đại hàn, xuân phân tam cửu lục, vũ thủy cửu lục tam,

Thanh minh, lập hạ tứ nhất thất, lập xuân bát ngũ nhị,

Cốc vũ, tiểu mãn ngũ nhị bát, mang chủng lục tam cửu.

Âm độn:

Hạ chí, bạch lộ cửu tam lục, tiểu thử bát nhị ngũ,

Đại thử, thu phân thất nhất tứ, lập thu nhị ngũ bát,

Hàn lộ, lập đông lục cửu tam, xử thử nhất tứ thất,

Sương hàng, tiểu tuyết ngũ bát nhị, đại tuyết tứ thất nhất.



DƯƠNG ĐỘN :

+ Đông Chí, Kinh Chập 1-7-4, Tiểu Hàn 2-8-5
+ Đại Hàn, Xuân Phân 3-9-6, Vũ Thủy 9-6-3
+ Thanh Minh, Lập Hạ 4-1-7, Lập xuân 8-5-2
+ Cốc Vũ, Tiểu Mãn 5-2-8, Mang chủng 6-3-9

ÂM ĐỘN

+Hạ Chí, Bạch Lộ 9-3-6, Tiểu thử 8-2-5
+ Đại Thử, Thu Phân 7-1-4, Lập thu 2-5-8
+ Hàn Lộ, Lập Đông 6-9-3, Xử thử 1-4-7
+ Sương giáng, Tiểu tuyết 5-8-2, Đại tuyết 4-7-1



Tức là tiết Đông Chí, Kinh chập Thượng Nguyên là Cục 1 Dương độn, Trung nguyên là Cục 4 Dương độn, Hạ nguyên là cục 7 Dương độn. Các câu khác cũng tương tự mà suy ra.

Đây là sự phối hợp của Hậu thiên bát quái, lạc thư và 24 tiết khí, đùng để xác định cục số không giống nhau của ngày trong mỗi tiết khí. Trong 24 tiết khí, 2 tiết chí, 2 tiết phân, 4 tiết lập phân biệt ở chính giữa tám cung cũng xác định bằng 8 con số Lạc thư. Đông chí đóng ở Quẻ Khảm ứng với số 1, Lập xuân đóng ở quả Cấn ứng với số 8, Xuân phân đóng ở Quẻ Chấn ứng với số 3, Lập hạ đóng ở Quẻ Ly ứng với số 9, Lập thu đóng ở Quẻ Khôn ứng với số 2, Thu Phân đóng ở Quẻ Đoài ứng với số 7, Lập Đông đóng ở Quẻ Càn ứng với số 6. Đây là 8 cục số của tiết khí thượng nguyên, nó chính là vị trí của số Lạc thư. Tức là cục số 1 Dương độn của tiết Đông chí Thượng Nguyên, Cục số 4 Dương độn của tiết Lập xuân, Cục số 9 của tiết Hạ chí Âm độn Hạ Nguyên. Các chỗ khác cứ thế mà suy ra.

Trong 24 tiết khí thì có 8 tiết khí thuộc Thượng Nguyên. Hai cục số tiếp theo của tiết khí Thượng Nguyên (tức Trung nguyên và Hạ nguyên) đều căn cứ vào số cục của tiết khí Thượng nguyên để xác định theo quy luật Dượng Thuận, Âm Nghịch. Như tiết Đông chí là cục thứ nhất dương độn Thượng Nguyên, tiếp theo tiết Đông chí lần lượt theo thứ tự là Tiểu Hàn, Đại Hàn. Tiết tiểu hàn Thượng nguyên là Cục số 2 Dương độn, Đại hàn Thượng Nguyên là cục số 3 Dương độn. Các tiết khác cũng cứ thế mà suy ra.

Trong phép sắp xếp cục số của Kỳ môn thời gia, 5 ngày là 1 cục, vì sao 5 ngày lại là 1 cục? Nguyên nhân là do mỗi ngày có 12 giờ, đều bắt đầu từ giờ Tý đến giờ Hợi (đây là nói đến giờ tính theo địa chi). Về phần 5 ngày này, ngày nào cũng có địa chi của giờ giống nhau (đều bắt đầu từ Tý và kết thúc ở Hợi), Thiên can cũng sẽ không giống nhau. Như nửa đêm hôm trước là giờ Giáp Tý, nửa đêm hôm nay là giờ Bính Tý và nửa đêm ngày mai là giờ Mậu Tý. Như vậy, mỗi ngày là 12 canh giờ, 5 ngày là 60 canh giờ, vừa vặn một vòng Giáp Tý đến Quý Hợi là một Hoa Giáp. Đến ngày thứ 6, nửa đêm lại bắt đầu từ giờ Giáp Tý, đây là ý nghĩa tại sao 5 ngày lại là một cục số.

Mời bạn vào line này theo dõi tiếp :
http://phongthuykinhdich.com/forum/viewthread.php?tid=4209&highlight= 

3) NƠI GẶP NHAU CỦA CÁC TRƯỜNG PHÁI PHONG THUỶ ( Tích phúc)

NƠI GẶP NHAU CỦA CÁC TRƯỜNG PHÁI PHONG THUỶ ( Tích phúc)







Hì chào mọi người !
Nhớ lúc xưa đọc ở đâu đó có một Thiền sư tu học cả đời làm hai câu thơ . Hì mà hai câu này mình nhớ cũng không đúng nguyên văn , nhưng ý tứ hay nay lấy làm mở bài dẫn nhập vào topic này .
Kinh sách trên đời tám vạn thư .
Đọc xong còn lại một chữ NHƯ !

Mình mở topic này cũng vậy , topic này tập trung các bài viết có điểm chung của ba trường phái phong thủy thông dụng ( Tam hợp , Huyền không , Bát trạch )Chữ NHƯ  của hai câu thơ trên đổi thành chữ PHÚC mà bất cứ danh sư phong thủy nào cũng không dám bỏ !

  • Danh sư Tả- Ao phái Tam hợp viết về chữ Phúc .
. Đấng làm quân tử đạo ta
. Ơn vua, ơn chúa, ơn cha, ơn thầy.
. Có làm báu cả xưa nay.
. Văn chương, y dược, đạo này là ba
. Lấy làm ba Bảo truyền nhà.
. Song le địa lý thật là thần tiên
. Học thầy khẩu thụ tâm truyền.
. Nhiệm màu mọi vẻ, kính tin mười phần.
. Đạo cao, đức trọng, chưng thân.
. Hổ long liên phục, quý thần liên kinh.
. Đức, nhân vốn ở cả mình.
. Trước là tích đức, sau là tầm long.
Phân tích bốn câu cuối bài thơ này :
(9) Đạo cao đức trọng chung thân
(10) Hổ long liên phục, quỷ thần liên kinh.
Tuy nhiên phần kết luận ở lời mở này, cụ cũng cho biết là dù có giỏi địa lý cũng
chưa chắc hưởng được đất quý, nếu không có đạo cao đức trọng. Hình như có quỷ
thần trông coi các ngôi đất lớn.
Có đạo cao đức trọng, sẽ có phúc mà người có phúc thì mới xứng đáng được
đất lớn, mà không có hại. Hai câu trên cụ Tả Ao lấy ý nghĩa của câu chữ Hán dưới
đây:
Đạo cao: long, hổ phục (đạo cao rồng, hổ cũng phải phục).
Đức trọng: quỷ thần kinh (đức trọng quỷ thần cũng phải sợ) để nhắc ta cần tu
nhân, tích đức, trước khi lo việc tìm đất kết.
(11). Đức nhân vốn cả ở mình
(12). Trước là tích đức sau là tầm long
Đất kết là của báu của thế gian trời dành cho người có đức. Đức không phải tự
nhiên rơi xuống cho mà chính con người phải tạo ra mới có. Có đức rồi sau mới nên
tìm đất kết.



  • Danh sư phái Huyền không viết về chữ phúc .


[img][/img]


  • Danh sư phái Bát Trạch .




Chủ Nhật, 30 tháng 3, 2014

THẤU ĐỊA KỲ MÔN - TỬ PHỤ, TÀI QUAN, LỘC MÃ QUÝ NHÂN ( Kiến thức cao cấp của phái tam hợp )




Chào các bạn !
Mình mở topic này nhằm khai sáng phần nào môn phong thuỷ của phái tam hợp một phái phong thuỷ lâu đời  mà lâu nay bị huyền không phái lên  án oan là nguỵ  phái !
Thật khi đào thật sâu thì phái nào cũng có gốc từ đồ thư và tiên hậu bát quái !
Mình không có tham vọng làm rõ mâu thuẫn giữa hai học phái này . Cái này để đời sau nữa phán xét . Hoặc khi nào các bạn có công phu thâm hậu của cả hai trường phái thì các bạn sẽ hiểu .
Để hiểu được topic này ban phải có kiến thức về KỲ MÔN ĐỘN GIÁP !

SÁCH .http://www.mediafire.com/?zndtke1c6y12dff

Mình cũng không viết thêm gì  vì  văn chương có hạn  , Mình chỉ có mỗi một việc là liên kết các điều chỉ dạy thâm sâu của các bậc tiền bối cho có trình tự ( Vì kiến thức cổ đã lâu đời mà lại nằm rải rác mỗi quyển sách một ít  )
Các nho gia ngày xưa đã viết và chỉ dạy đầy đủ rõ ràng cả rồi . Dù mình có muốn viết thêm cũng chỉ làm rối thêm cho những bạn thực sự có tâm  tìm tòi học hỏi .
Topic này giới thiệu 2 tầng la kinh trong 36 tầng la kinh  của phái tam hợp và cách sử dụng nó !
Sách : La kinh thấu giải

https://app.box.com/s/6n72eno7ef8wuxobqnnn

Hy vọng topic này  có duyên với các bạn ! 
TẦNG THỨ 14: THẤU ĐỊA KỲ MÔN ?
TỬ PHỤ, TÀI QUAN, LỘC MÃ QUÝ NHÂN

BÀI CA NGŨ NGÔN: TIÊN NGÔN XUYÊN SƠN HỔ
Phương hành thấu địa long
Hỗn thiên khai bảo chiếu
Kim thủy nhật, nguyệt phùng

Nghĩa là: Trước hết nói xuyên sơn hổ, rồi đi đến thấu địa long, tự nhiên trời mở sáng
như bảo kính soi, thì kim, thủy, nhật, nguyệt gặp nhau.
“Xuyên sơn hổ” là tiếp mạch của 72 long, “tiên thức” là xét cái lai mạch trước để biết
nhập thủ là long gì ? Không nói là long mà nói là hổ, đó là ý nghĩa của phép dùng “ngũ hổ”
làm nguyên độn để ứng khí hậu, “phương hành” là đã biết long nhập thủ rồi, thì sau mới có
thể làm việc thừa khí, tọa huyệt được, “thấu địa” tức là 60 long của tọa huyệt, với 72 long là
cái bên trong, cái ở ngoài, nên bảo là “tương biểu lý”, thâu: là như dùng cái ống thổi khói, để
khí thông vào huyệt, “xuyên” là như dùng sợi chỉ để xỏ vào lỗ kim, để được suốt tới; “hỗn
thiên” là cái hỗn thiên lục Giáp dùng làm độn khởi, để tìm cái sa thủy của tứ cát, tam kỳ, “bảo
chiếu” là như cái gương sáng, soi vào vật đó, có thể thấy đủ cả tứ cát tinh của hỗn thiên di
chuyển “kim, thủy; nhật, nguyệt” là 4 cấm tinh này hội hợp 1 chỗ, lấy đó làm tác dụng, để thu
sa, thủy, lai long của bản ở tọa huyệt hợp với tầng thứ 5 của la bàn, cùng luật lệ; trước hết
theo thời tiết của 6 Giáp, định ra 3 thời hậu: thượng, trung, hạ, sau khi đã chia ra 9 cung dùng
để độn Giáp, xem khởi Giáp Tý ở cung nào, sau đó mới đặt ra quẻ độn, biết quẻ đầu ở đâu,
bản long tới chỗ nào, tử, phụ, tài, quan nhân đó mà suy đoán. Nhật, nguyệt, kim, thủy theo đó
mà hội. Tam kỳ bát môn theo đó mà suy ra, thì biết hết sự của tinh độ nội quái.
DƯƠNG ĐỘN KHỞI TIẾT CA
Đông chí, kinh chập, nhất thất tứ
Tiểu hàn, nhị bát ngũ vi thứ
Đại hàn, xuân phân, tam cửu lục
Lập xuân, bát ngũ nhị tương trục
Thanh minh lập hạ, tứ nhất thất
Ngũ thủy, cửu lục tam vô thất
Tiểu mãn, cốc vũ ngũ nhị bát
Nang chủng, lục tam cửu số chi

Nghĩa là: Thuộc về tiết đông chí và kinh chập thì khởi ở số 1, 7, 4. Tiết tiểu hàn thì khởi
ở số 2, 8, 5. Tiết đại hàn và xuân phân thì khởi ở số 3, 9, 6. Tiết lập xuân thì khởi ở số 8, 5, 2.
Tiết thanh minh và lập hạ thì khởi ở số 4, 1, 7. Tiết ngũ quỷ thì khởi số 9, 6, 3. Tiết tiểu mãn
và cọc vũ thì khởi ở số 5, 2, 8. Tiết mang chủng thì khởi ở số 6, 3, 9.
ÂM ĐỘN KHỞI TIẾT CA
Hạ chí, bạch lộ, cửu tam lục
Đại tuyệt, tứ thất, nhất cung trú
Đại thử, thu phân, thất nhất thứ
Tiểu thử bát nhị ngũ trung xuy
Lập đông, hàn lộ, lục tam cửu
Lập cung, nhị ngũ, bát cung tham
Tiểu hàn sương giáng, ngũ bát nhị.
Sứ thử nhất tứ thất nội hàm

Nghĩa là: Tiết hạ chí, bạch lộ ở số 9, 6, 3. Tiết đại hàn ở số 7, 1, 4. Tiết đại tuyết bạch lộ
ở số 4, 7, 1. Tiết tiểu thử ở số 8, 2, 5. Tiết lập đông hàn lộ ở số 6, 3, 9. Tiết lập thu ở số 2, 5, 8.
Tiết tiểu hàn sương giáng ở số 5, 8, 2. Tiết sử thử ở số 1, 4, 7.
KỲ MÔN ĐỘN GIÁP THỨC



TẦNG 17:
ĐỊNH TỨ CÁT, TAM KỲ, BÁT MÔN, CỬU TINH;
TỬ, PHỤ, TÀI, QUAN, HUYNH ĐỆ,
LỘC MÃ, QUÝ NHÂN, ĐÁO PHƯƠNG, ĐỊNH CỤC

Co dãn 60 long thấu địa, gọi là thiên Kỷ, hay thấu địa quang bảo đó là mộ thừa khí; đưa
khí tốt vào huyệt, Tiên Thánh nói: Núi sông có linh thiên mà không có chủ; hài cốt có chủ
nhưng không có linh thiêng. Người chết còn linh gì được ? Chẳng qua là cái khí thiêng của
núi sông tụ lại, là chân long kết huyệt, chung đúc khí tinh anh lại 1 chỗ, làm cho hài cốt ấm
áp, trong sạch, thì cái tinh khí ấy truyền vào con cháu, được thấm nhuần mà phát sanh ra

người tinh anh v.v… Như: 12 vị thiên can lai long, trong vòng đó có 1 huyệt gặp được vị châu
bảo, còn xê dịch sang hai bên tả, hữu là vị cô hư, sát diệu, không vong. Cách một huyệt hỏa
khanh ở bên tả và hữu lại có 2 huyệt có thể kết được. Như vậy là có 3 huyệt phát phúc. Như:
trong 12 long địa chi nhập thủ, thì mỗi long có 2 huyệt, là chân bảo. Trong 12 chi, mỗi chi có
5 chữ Tý, cộng lại thành 60 hoa Giáp hợp với 12 thiên can trước là 72 long xuyên sơn nhập
thủ chỗ tọa huyệt.
Khi đặt La kinh thì phải đặt ở chỗ kết huyệt, thừa đúng chỗ lý khí của loan đầu, mà chỉ
dùng xem 60 long thấu địa thôi, xuyên sơn long không cần phải dùng đến ở đó. Lấy thấu khí
vào quan, ở sau huyệt, khoảng 8 thước (thước Đông phương). Những long thuộc về địa chi, ở
giữa chỗ phùng (2 mép khép lại) là hỏa khanh, tối kỵ, không nên đặt quan tài vào đó, mà phải
thấu vào long huyệt châu bảo, ở 2 bên tả, hữu hỏa khanh. Học giả khi đăng sơn xem đất, trước
phải chiêm nghiệm những ngôi đất cũ, từ xưa nay, hãy còn danh tiếng tích, thì mới biết phép
thừa khí, phân biệt được xấu, tốt đã, sau mới đoạt được Thần công, thắng tạo hóa. Sau đây,
trình bày về 24 ngôi châu bảo thấu địa long và liệt đô về kỳ môn, tử, phụ, tài, quan, quý nhân,
lộc mã, ngũ thân, sa, thủy.
GIẢI THÍCH VỀ TỬ, PHỤ, TÀI, QUAN, HUYNH ĐỆ GỌI LÀ NGŨ THÂN
Thấu địa kỳ môn lục Giáp, chia làm 2 thứ độn là âm và dương
1- Dương sinh ở Giáp Tý, là dương độn thì thuận khởi lục nghi nghịch bá tam kỳ
2- Âm sinh ở Giáp Ngọ, là âm độn thì nghịch khởi lục nghi thuận bá tam kỳ.
Sự cần thiết là thu được sơn của tứ cát, phác được thủy của tam kỳ, tọa vào các phương
lộc, mã, quý nhân, phải kỵ cho ngũ hành quan sát tránh chỗ âm, dương, sai thác, bỏ những
tinh thần án phục, thì lấy được những độ thanh kỳ của bát can. Lấy đó mà lượng sa, tính thủy
thì không sai. Phép định huyệt thì lấy hỗn thiên Giáp Tý làm chủ trong 60 long, 12 chi, mỗi
chi chiếm 5 ngôi. Chia các tinh độ thuộc ngũ hành của 6 Giáp Tý ra, thừa khí ở đó. 60 thấu
địa long, tọa huyệt làm nội quái, do hỗn thiên Giáp Tý để xét sơn thủy tốt, xấu làm cần thiết,
lấy quý nhân, lộc mã, hoặc tam kỳ là Ất, Bính, Đinh, tứ cát là kim, thủy, nhật, nguyệt. Ngũ
thân là sa, thủy, tử, phụ, tài, quan, huynh đệ để tọa huyệt, hợp được sơn của 8 phương. Nếu
được kim, thủy, nhật, nguyệt chiếu hướng, hoặc được tam kỳ tú bạt là sơn hữu lực, hoặc các
phương tử, phụ, tài, quan, huynh đệ, có cao phong viên tú hữu lực; hoặc quý nhân, lộc mã
cũng phù hợp hóa là đất thượng hạng. Quyết định phát xuất công hầu, khanh tướng, sinh
người trung trinh, nhân hậu, anh tài. Còn nếu hợp được tam kỳ, tứ cát, tất sinh ra người kinh
khôi, hào kiệt, liệt sĩ, anh hùng. Pháp này đời nay hiếm người biết đến.
Tiên Thánh tạo ra các quẻ kỳ môn là để sử dụng các tinh độ biết cách tự nhiên mà xuất.
Các học giả hậu thế phần nhiều là chưa biết nay lục ra thêm 4 tầng để khỏi bị thất truyền,
dùng hay không tùy ý.


Khí Bính Tý ở chính long Nhâm, là tiết đại tuyết, hạ cục, khởi đầu từ Giáp Tý, Mậu
Thân là phù dâu, là nghịch độn tại cửu cung, là quẻ trạch thủy khổn , thuộc kim, sơ hào là
khuê mộc lang chủ trì (trì thế)


Khí Canh Tý ở chính long Tý
Tiết đông chí, khởi Giáp Tý ở cung thất (cung 7)
Giáp Ngọ ở cung Khảm, là phù đầu
Quẻ Chấn, là quẻ lôi thủy giải thuộc mộc
Hào 2 là tâm nguyệt hồ trì thế


Đinh Sửu khí ở chính quy long, Tiết tiểu hàn, hạ cục được quẻ phong thủy hoán, ngũ
cung khởi Giáp Tý, Giáp Tuất là phù đầu. Kiền cung thuận độn thuộc hỏa, ngũ hào. Mão nhật
kê trì thế.



MẬU DẦN CHÍNH KHÍ CẤN LONG




Hình ảnh
Hình ảnh
Hình ảnh

Hình ảnh

Hình ảnh

Hình ảnh

Hình ảnh

Hình ảnh
Hình ảnh
Hình ảnh

Hình ảnh
Hình ảnh

Hình ảnh
Hình ảnh

Hình ảnh
Hình ảnh

Hình ảnh
Hình ảnh

Hình ảnh



1) XEM BÓI - XEM PHONG THỦY

  • Hân hạnh đón bạn ghé thăm - Chúc bạn vạn sự như ý !
  • Nhờ tư vấn bạn theo những địa chỉ này nhé !
  • Email                :      hoailinh816@yahoo.com 
  • Another email  :      linhanhyedc@gmail.com
  •  Số di động      : 01225435991
  • Kết bạn facebook với tôi !
  • Nhìn qua website cá nhân tôi !