Thứ Bảy, 4 tháng 10, 2014

HUYỆT KẾT LÀNH HAY KẾT DỮ

HUYỆT KẾT LÀNH HAY KẾT DỮ  !
Trích từ địa lý Tả ao

Huyệt cát hay huyệt hung
(59) Thắt cuống cà phì ra mới kết
(60) Xem cho biết huyệt cát huyệt hung
(61) Huyệt cát nước tụ vào lòng
(62) Đôi bên long hổ uốn vòng chiều lai
(63) Huyệt hung minh đường bất khai
(64) Sơn tà thủy xạ hướng ngoài tà thiên
(65) Táng xuống kinh sàng bất yên
(66) Con cháu thường thường phát bệnh ốm đau
(67) Muốn cho con cháu sống lâu
(68) Tìm nơi Huyền Vũ đằng sau cao dày
(69) Long Hổ bằng như chân tay
(70) Chẳng có tả hữu bằng ngay chẳng lành
Phần này cụ Tả Ao ấn định huyệt tốt, huyệt xấu vào hai loại: Huyệt cát và huyệt hung. Trước khi nói đến hai loại huyệt này cụ lại cẩn thận chắc chắn, nhắc lại lần thứ ba một ý nữa:
(59) Thắt cuống cà phì ra mới kết
Để con cháu xem lại có phải là đất kết không đã, rồi mới đi vào phần chi tiết tìm hiểu một huyệt cát hay huyệt hung. Cụ phải nhắc lại như vậy vì lý do: Nếu không phải đất có huyệt kết, thì phân tích huyệt cát huyệt hung làm gì cho mất thời gian.
Bây giờ cụ mới giảng chỗ có huyệt kết đó: Cát hay hung.
Xem cho biết huyệt cát huyệt hung
(61) Huyệt cát nước tụ vào lòng
(62) Đôi bên long hổ uốn vòng chiều lai
(63) Huyệt hung minh đường bất khai
(64) Sơn tà thủy xạ hướng ngoài tà thiên
Một đất kết có rồi ta phải xem nó là đất kết cát hay hung.
Huyệt hung thì Minh đường không tụ nước và sơn thủy xấu. Sơn thủy xấu là:
(64) Sơn tà, thủy xạ, hương ngoài tà thiên
Sơn là sơn không chính. Sơn là các sa như bút (giải nhọn) bảng (hình chữ nhật) ấn (hình vuông) ngựa, voi, trâu, lân, hổ (hình thú) v.v...
Những chứng ứng này không chầu vào huyệt, chiều cao không cân đối (gần thì ngang huyệt, càng xa càng cao hơn) đều là sơn là (không chính) không quân bình, phương chính. Sơn xấu làm cho huyệt kết thành kết hung.
Thủy xạ: Thủy xạ là các ngọn nước đáng nhẽ phải bao nhiêu (chạy khuất khúc) chầu về huyệt thì đâm thẳng vào huyệt hay giữa Minh đường như phóng mũi nhọn của nó vào huyệt hay vào giữa minh đường. Nước như thế là thủy xạ, thủy như thế là thủy xấu làm cho huyệt kết thành kết hung. Hướng ngoài tả thiên: là sơn hay thủy đáng nhẽ chầu vào huyệt thì lại quay lưng lại huyệt và chầu ra ngoài (hướng ngoài). Các sa méo mó lệch lạc siêu vẹo lở đứt. Sơn thủy hướng ngoài tả thiên cũng làm cho huyệt kết trở lên huyệt hung.
Không những sa (sơn) và thủy (ngọn nước) “hướng ngoài tả thiên” là xấu, mà chính ngay Minh đường hướng ngoài tả thiên là loại minh đường nghiêng lệch đổ nước ra ngoài chứ không thu nước vào trước huyệt. Minh Đường mà nghiêng lệch thì con cháu sẽ có tâm địa tà dâm, bất chính.
Ta lại tóm tắt huyệt cát huyệt hung qua Minh đường, Long hổ, Huyền vũ một lần nữa vì nó quan trọng:
Minh đường ảnh hưởng đến sự giàu nghèo và sự thông minh hay ngu đần của con cháu, còn Long Hổ thì tay Long ảnh hưởng đến con trai hay ngành trưởng và tay Hổ ảnh hưởng đến con gái hay ngành thứ.
Một huyệt tốt (huyệt cát) trước tiên và cần thiết nhất là:
Minh Đường phải có nước tụ và hai bên Long Hổ phải ôm chầu về huyệt.
Huyệt hung thì Minh Đường không có nước (Minh Đường bất khai) con cháu sẽ nghèo. Minh Đường phải quanh năm có nước, con cháu mới giàu được.
Nói qua Minh Đường rồi nay nói đến Long Hổ: Long Hổ phải ôm chầu vào huyệt mới tốt. Tay Long và tay Hổ không tay nào được ngoảnh ra ngoài.
Để mã vào chỗ đất có huyệt hung thì có thể có báo hiệu ngay bằng cách trong nhà thấy đau yếu tang thương.
(65) Táng xuống kinh sảng bất yên
(66) Con cháu thường thường phát bệnh ốm đau
Táng phải huyệt hung thì khi đất chưa kết đã xảy ra tang thương bệnh tật cho con cháu, trong nhà trong họ, nhiều người cho là đất kết phải sát trước mới phát sau. Sự thực thì tại gặp huyệt hung và tiêu sa nạp thủy không giỏi mà ra.
Nói về huyệt cát huyệt hung ta cần phải chú trọng đến Huyền vũ nữa. Huyền vũ là chỗ long mạch dẫn vào huyệt kết. Nó là nơi rót khí mạch vào huyệt. Nơi Huyền Vũ mà cao dày thì con cháu mới được thọ, mới sống lâu. Huyền Vũ mỏng và thấp con cháu kém thọ thì dù có học giỏi cũng không ra gì.
(67) Muốn cho con cháu sống lâu
(68) Tìm nơi Huyền Vũ đằng sau cao dày
(69) Long Hổ bằng như chân tay
(70) Chẳng có tả hữu bằng ngay chẳng lành.
Tay Long tay Hổ của huyệt cũng như tay phải tay trái của người. Nó không được đứt đoạn, khuyết hãm mà còn cần phải bằng ngay cao ngang huyệt tràng để che gió cho huyệt thì mới không có hại (gọi là tàng phong).
Một đất kết ở giữa thì đằng sau có Huyền Vũ. Hai bên có Long Hổ, đằng trước có
Án mới đủ quân bình phương chính mà ở đây cụ Tả Ao không đề cập Án, vậy phải nói thêm cho đủ.
Án ở trước huyệt như cái bàn giấy trước mặt người ngồi. Án họ huyệt ở đằng trước cũng như chấm ở đằng sau. Long Hổ ở hai bên. Như vậy, Án cũng phải có “tinh” với huyệt. Muốn thế án phải ôm chầu vào huyệt. Rất kỵ Án có mũi nhọn đâm hoặc phản lưng vào huyệt.
Cụ Tả Ao không nói Án xong có nói đên Sa (Sơn) Án cũng là một loại sa nhưng can hệ hơn các Sa khác. Án là thứ sa chính.

Thứ Sáu, 3 tháng 10, 2014

Các dấu hiệu của đất kết quý hiển !

Các dấu hiệu của đất kết quý hiển !


CÁC CHỨNG ỨNG THÊM TÔN QUÝ CHO CUỘC ĐẤT
(71) Kìa như đất có ngũ tinh
(72) Nhận xem cho biết tương sinh loan hoàn
(73) Muốn cho con cháu nên quan
(74) Thì tìm Thiên mã phương nam đứng chầu
(75) Muốn cho kế thế công hầu
(76) Thì tìm chiêng trống dàn chầu hai bên
(77) Ngũ tinh cách tù chiếu nguyên
(78) Kim, Mộc, Thủy, Hỏa bốn bên loan hoàn
(79) Thổ tinh kết huyệt trung ương
(80) Ất đất sinh thánh sinh vương đời đời
(81) Thiên sơn vạn thủy chiều lai
(82) Can chi bát quái trong ngoài tôn nghinh
(83) Nhị thập bát tú thiên tinh
(84) Tại thiên chiếu huyệt rành rành chẳng sai
Phần này cụ Tả Ao bàn rộng về phép tương sinh của ngũ hành với khoa địa lý và nói đến những chứng ứng tôn thêm vẻ quý cho huyệt .
Trước tiên cụ nói đến ngũ hành
(71) Kìa như đất có ngũ tinh
(72) Nhận xem cho biết tương sinh loan hoàn
Có nghĩa là muốn suy xét rộng ngoài lẽ âm dương đã nói ở trên ta phải nắm vững thêm ngũ hành. Tất cả các hình thể của đất, trước nhất là phải chú trọng đến năm hành là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.
1. Hình tròn là kim tinh hay con Kim
2. Hình dài là mộc tinh hay con Mộc
3. Hình vuông là thổ tinh hay con Thổ
4. Hình nhọn là hỏa tinh hay con Hỏa
5. Hình sóng gợn là thủy tinh hay con Thủy.
Những con này có thể đứng hay nằm. Nếu là đồi cao thì đứng và dãy đất thấp thì nằm, đứng phải nhìn theo trực diện của người đứng ở huyệt kết và nằm phải nhìn theo bình diện của người ở trên cao giữa hình đất đó nhìn xuống.
Ngoài các loại chứng ứng cần thiết như: Kiếm, ấn, bút, nghiên lại còn những chứng ứng tôn thêm vẻ quý cho kiểu đất như: Ngựa, voi, rồng, lân, trâu, chiêng, trống, cờ, đình, đài v.v... Những chứng ứng này hoặc đóng ở bên tay Long, tay hổ hoặc trước án hoặc ở thủy khẩu cũng được
Càng nhiều chứng ứng càng rộng bao la càng có la thành bao bọc nhiều tầng càng lớn càng quý. Cụ Tả Ao lấy một ví dụ chứng ứng là con ngựa (thiên mã).
(73) Muốn cho con cháu nên quan
(74) Thì tìm thiên mã phương nam đứng chầu
Thiên mã ở Tử Vi thuộc hỏa là hỏa tinh, và phương Nam cũng thuộc hỏa nên . Thiên mã được chính vị là vượng nên có ảnh hưởng tốt cho huyệt kết.
Cụ lấy chứng ứng là nhiều tầng chiêng trống cờ bảng, thì lớn hơn nữa:
(75) Muốn cho kế thế công hầu
(76) Thì tìm cờ trống dàn chầu hai bên
Dưới đây cụ Tả Ao đề cập đến kiểu đất quý nhất để làm ví dụ:
(77) Ngũ tinh cách tú chiều nguyên
(78) Kim, Mộc, Thủy, Hỏa bốn bên loan hoàn.
(79) Thổ tinh kết huyệt trung ương
(80) Ấy đất sinh thánh sinh vương đời đời
(81) Thiên sơn vạn thủy chiều lai
(82) Can chi bát quái trong ngoài tôn nghinh
(83) Nhị thập bát tú thiên tinh
(84) Tại thiên chiếu huyệt rành rành chẳng sai
Kiểu đất quý ở câu 77 đến 84 trên đây không sinh Thánh cũng sinh vương, có những đặc biệt như sau: Giữa thổ tinh kết huyệt, phía đông có con Mộc, phía tây có con Kim, phía Nam có con Hỏa và  phía Bắc có con Thủy.
2. Nếu lớn thì phải có nhiều ngọn nước và nhiều núi chầu về:
(81) Thiên sơn vạn thủy chiều lai
3. Các chứng ứng chầu về đều nằm đúng vị trí chính vị của nó theo ngũ hành:
(82) Can Chi bát quái trong ngoài tôn nghinh
Để ứng về tử vi tòa trên trời có 28 vị sao chầu về:
(83) Nhị thập bát tú thiên tinh
(84) Tại thiên chiếu huyệt rành rành chẳng sai
Cách quý như trên, sinh được Thánh Vượng, rất khó kiếm nhưng được một phần của cách đó cũng khá lắm rồi.



ĐẤT PHÁT ĐẾ VƯƠNG


Trích : Địa lý Tả ao .

NÊN ĐỂ LẠI GÌ CHO CON CHÁU ?

NÊN ĐỂ LẠI GÌ CHO CON CHÁU ? ( Một mảnh đất kết chôn xác mình bằng cái chiếu con là tốt nhất )

CHỨNG ỨNG CẦN THIẾT
(38) Muốn cho con cháu Tam Khôi
(39) Phương Nam có bút phương Đoài có nghiên
(40) Muốn cho con cháu Trạng Nguyên
(41) Thời tìm bút lập hai bên sắp bày
(42) Nhất là: Tân, Tốn mới hay
(43) Bính, Đinh, Đoài, Cấn sắp bày đột lên
(44) Bút lập là bút trạng nguyên
(45) Bút thích Giác Điền là bút thám hoa
(46) Muốn xem cho kỹ sẽ là đất hay
Sau khi chỉ phép Tầm Long cho ta biết cách theo dõi long mạch để tìm đến huyệt tràng. Và sau đó từ huyệt tràng tìm ra huyệt kết, đến đoạn này cụ Tả Ao đề cập đến một số chứng ứng cần thiết:

(38) Muốn cho con cháu Tam Khôi
(39) Phương Nam có bút, phương Đoài có nghiên
(40) Muốn cho con cháu Trạng nguyên
(41) Thì tìm bút lập hai bên sắp bày.
Có nghĩa là muốn phát về Văn thì tìm huyệt nào mà phía Nam của huyệt có cây bút hoặc phía Tây (Đoài) của huyệt có gò đống tượng hình cái Nghiên Và muốn cho con cháu đỗ cao, đỗ đầu tất cả các kỳ thi phải tìm cây bút đứng (đứng chứ không phải nằm) sắp bày hai bên trước mặt huyệt.
Tưởng cũng nên giải nghĩa cho rộng hơn nghĩa tóm tắt ở trên:
Ngày xưa các cụ ta chỉ có một đường ra làm quan, để mở mặt với đời, báo hiếu cho cha mẹ, giúp dân nước là “thi đỗ rồi ra làm quan”.
Việc thi cử chia ra làm 4 thời kỳ.
1. Thi khảo hạch: thi khảo hạch xem có đủ sức đi thi không.
2. Thi hương: Sau khi đủ sức đi thi rồi thì kỳ thi bắt đầu được thi là thi Hương. Thi Hương chọn đến Cử Nhân, Tú Tài gồm vài tỉnh gần nhau đến thi.
ĐẤT PHÁT TRẠNG NGUYÊN
(40) Muốn cho con cháu Trạng nguyên
(41) Thì tìm bút lập đôi bên sắp bày
(42) Nhất là Tân Tốn mới hay
(43) Bính, Đinh, Đoài, Cấn sắp bày đột lên.



3. Thi hội: Sau khi đậu thi Hương những ai đậu cử nhân mới được vào thi hội tại Kinh Đô, lấy đến Tiến sĩ, Phó bảng.
4. Thi Đình: Ai thi hội có điểm cao mới được vào thi Đình tại sân rồng nhà vua.
Thi Đình lấy đến trạng nguyên là nhất (từ đời Gia Long trở đi bỏ không lấy trạng nguyên nữa). Bởi lề lối thi cử xưa kia như thế nên cụ Tả Ao nói là ai muốn con cháu học giỏi để thi đỗ luôn, cả ba khoa (tam khôi):Thi chọn kiểu đất phương Nam huyệt có cây bút,
phương Tây (Đoài) của huyệt có cái Nghiêm
Giải thích:
1. Bút là trái núi đứng nhọn đầu hay dãy đất nằm đầu nhọn ôm chầu về huyệt.
2. Nghiên là gò đống hay mảnh ruộng con hình vuông, chữ nhật. Cũng có thể có nghiên hình tròn và bán nguyệt.
3. Có 2 loại bút cụ Tả Ao nói ở đây là bút nằm và bút đứng. Bút nằm là bút giác điền và bút đứng là bút lập. Bút lập còn gọi là bút kinh thiên nghĩa là bút chống Trời. Trên kia có nói kỳ thi sau cùng ở sân rồng nhà vua mà ai đỗ đầu kỳ này sẽ là Trạng Nguyên thứ là bãng Nhỡn. Vậy đỗ Trạng Nguyên trước tiên là phải đỗ Tam Khôi rồi kỳ sau cùng thi Đình lại đỗ đầu. Muốn cho con cháu học giỏi thông minh như vậy phải tìm kiểu đất có sắp bày bút lập ở hai bên, đằng trước huyệt; nhưng không phải hướng nào có bút lập cũng giỏi giang như vậy.
Dưới đây cụ Tả Ao chỉ cho ta biết hướng nào có bút lập mới tốt:
(42) Nhất là Tân Tốn mới hay
(43) Bính Đinh Đoài Cấn sắp bày đột lên
Theo câu (42) – (43) thì bút tốt nhất ở hướng Tân và hướng Tốn. Sau nữa đến bút ở hướng: Bính, Đinh, Đoài hoặc Cấn. Và cụ cũng giải nghĩa bút lập tốt hơn bút giác điều bằng ý nghĩa có bút lập có thể đỗ đến Trạng Nguyên còn bút giác điền tốt cũng chỉ đỗ đến Thám Hoa mà thôi.
ĐẤT PHÁT THÁM HOA

(44) Bút lập là bút trạng nguyên
(45) Bút thích giác điên là bút thám hoa
(46) Nhìn xem cho kỹ sẽ là đất hay
Khoa địa lý có người gọi là địa ý có nghĩa là không thể căn cứ vào một mẫu mực
nào mà theo đó đi tìm được đất. Các cuộc đất đều khác nhau, khác về chứng ứng chầu
về huyệt cùng cách thế của huyệt tràng. Vì vậy nên phải suy tư cân nhắc làm sao để mà
vào đúng huyệt chỉ lớn bằng cái chiếu mới hy vọng có đất kết, mới thành công. Cổ nhân
đã có câu:
“Mạch đi muôn vạn dặm nghìn
Chung quy huyệt kết chỉ tìm chiếu con”
Là thế.
Cụ Tả Ao khuyên ai học địa lý trước tiên là phải đọc sách sau là phải ước lượng cho cao. Muốn ước lượng cho cao người học địa lý trước phải học được chính tông sau phải thực hành rất nhiều ở ngoài đồng và phải thông minh mới ước lượng đúng được, mới tìm ra cái “chiếu con” trong một đại cuộc đất đi cả muôn nghìn vạn dặm:
(47) Khuyên ai học làm thầy địa lý
(48) Trước phải đọc sách sau là lượng cao
(49) Dù ai khôn khéo thế nào
(50) Học mà chẳng xét ấy là vô tông
Cả 4 câu cụ Tả Ao nhấn mạnh về 2 điểm: 2 câu trên nói là phải lượng cho cao và 2 câu dưới nói là phải nhận xét cho đúng.
Muốn lượng cao và xét đúng không phải là dễ. Đọc sách địa lý cho kỹ để ước lượng cho rành mà còn phải thông hiểu cả dịch lý học túc âm dương học hay lưỡng nghi học để suy xét, bổ túc thêm cho khoa địa lý. Nơi đây ta thử lấy âm dương làm căn bản để ước lượng suy ngẫm một cuộc đất, tìm sự quân bình cho mọi chi tiết kỹ thuật của khoa địa lý:
- Trước tiên đất bình dương phẳng là dương, thì gò đống nổi cao hơn là âm và đất sơn cước nhiều đồi núi là âm thì thung lũng bãi của nó là dương. Đất sơn cước cường dũng nên chọn huyệt ở chỗ mạch nhỏ long gầy; nơi bình dương thấp phẳng phải chọn nơi cao làm huyệt (khởi đột). Như thế mới là âm dương cân đối.
- Rồi đến tay long là dương phát ngành trưởng và con trai thì tay Hổ là âm (phát ngành  thứ hay con gái, Long Hổ phải tương nhượng nhau, Long là anh phải dài hơn Hổ là em. Long dài hơn nên cần nhọn đầu thì Hổ ngắn hơn cần thủy đầu, hay tròn đầu.
- Sau đến núi (sơn) chủ tĩnh là âm thì nước (thủy) chủ đội là dương. Khi đến huyệt kết phải có sơn thủy giao lại âm dương giao hội, nghĩa là núi chủ tĩnh đến đó phải quay đầu vẫy đuôi như động và nước chủ động đến huyệt kết thì phải lưu luyến nữa muốn ở nữa muốn đi, tụ lại trước huyệt rồi mới chảy đi.
- Núi và nước một động vật tĩnh đi song song như vợ với chồng che chở nâng đỡ hộ vệ nhau. Nước từ khe núi, từ mạch trong núi chảy ra ngoài thì nước lại theo núi mà nuôi dưỡng cho khí mạch của núi, cho núi đỡ khô.
Long mạch đi có vẻ Âm thì chuyển dương mới vào huyệt. Trái lại Long mạch đi đang Dương thì nhập thủ huyệt trường phải âm.
Trên đây mới nói sơ về lý âm dương. Ngoài lý âm dương ta còn phải chú trọng đến ngũ hành nữa. Thấy hình tròn ta gọi là kim, dài là mộc, nhọn là hỏa, vuông là thổ là như sóng gợn là thủy.
Ngay đến phương hướng cũng có âm dương ngũ hành khác nhau:
Hướng : Hợi, Nhâm, Tý, Quý là thủy.
Hướng : Sửu, Cấn là thổ
Hướng : Dần, Giáp, Mão là mộc
Hướng : Thìn là thổ
Hướng : Tỵ, Bính, Ngọ, Đinh là hỏa
Hướng : Mùi, Khôn là thổ
Hướng : Thân, Canh, Dậu, Tân là kim.
Hướng : Tuất là thổ
Hướng : Càn là kim
Trên là hướng còn phương cũng có ngũ hành:
Hành mộc : Ở phương Đông
Hành kim : Ở phương Tây
Hành hỏa : Ở phương Nam
Hành thủy : Ở phương Bắc
Hành thổ : Ở Trung ương
Do đó cụ Tả Ao nói là: Học chẳng xét cũng là vô tông ở câu 50 có nghĩa là học mà không biết suy xét cho cặn kẽ không phải là địa lý chính tông, không có gốc căn bản.

Trích trong địa lý TẢ AO
Xem bói & Xem phong thủy
Email : hoailinh816@yahoo.com
Khác  : linhanhyedc@gmail.com

Phone:  01225435991