Thứ Hai, 23 tháng 2, 2015

Sấm Trạng Trình và nhà tiên tri mù Vanga

Cụm từ “số mệnh” rất phổ biến trong xã hội từ thời xưa cho đến hiện đại, nhưng ít ai để ý đến nội hàm thâm sâu của nó. Người xưa hay nói “sống chết có số”, “số” muốn nói sự đặt định sẵn từ trước, còn “mệnh” ý muốn nói là sinh mệnh, là mạng sống của một con người. Vậy “số mệnh” muốn nói đến sự đặt định sẵn của một sinh mạng từ khi sinh ra cho đến khi chết đi.
Thế giới từ cổ xưa đến nay xuất hiện nhiều nhà tiên tri, có thể thông qua khả năng tiên tri của mình để dự đoán tương lai. Ở phương Tây thế kỷ 20 nhà tiên tri mù Vanga đã đưa ra nhiều tiên đoán mà 80% trong số đó là đúng, 80% đó không phải là con số đoán mò mà ra được. Ở phương Đông có Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, trong lịch sử Việt Nam đều có rất nhiều giai thoại về những lời tiên đoán chính xác còn truyền đến tận ngày nay…
Những câu chuyện tiên tri để đời của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm
Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. (Ảnh: nld.com.vn)
Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm
Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm
Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491–1585) tinh thông về lý học, tướng số, ‘sấm Trạng Trình’ của ông đã tiên đoán đến 500 năm sau . Chẳng thế mà có đôi câu đối ở đền thờ Bạch Vân Am “Kế tuyệt, phù suy Chư Cát Lượng/ Tri lai, tàng vãng Thiệu Nghiên Phu” (Nối được cái  đã đứt, đỡ được cái đã suy như Chư  Cát Lượng/Tìm hiểu việc đã qua, dự đoán việc mai sau như Thiệu Nghiên Phu). Tiếng tăm của ông không chỉ nổi ở trong nước mà còn vang đến tận Trung Hoa, khiến giới học giả ở đó cũng ngưỡng mộ xưng tụng: “An Nam lý học hữu Trình Tuyền”.
Câu chuyện ngôi mộ Trạng Trình.
Sau khi Trạng Trình mất, có thầy địa lý nổi tiếng ở Trung Quốc muốn xem thực hư chuyện Trạng thế nào đã lặn lội sang tận mộ cụ. Đến nơi, thấy ngôi mộ đặt đúng vào huyệt đất tốt nhưng huyệt phát ở đằng chân mà mộ lại đặt ngược, ông thầy Tàu cho là Trạng Trình cũng chỉ có danh mà không có thực, mới tự đắc bảo: “Cái huyệt ở đàng chân sờ sờ thế kia mà không biết lại tự đem để mả thế này. Có thánh nhân cái gì đâu, hay là thánh nhân mắt mù đó”.
Con cháu cụ Trạng nghe thấy vậy liền khẩn khoản nhờ thầy đặt lại mộ cho. Ông thầy đồng ý và bảo: “Không cần phải đem đâu xa cả, chỉ cần đào lên rồi xoay lại quan tài và nhích lên một chút là được”. Y lời, con cháu cụ Trạng đào mộ lên, đến gần quan tài thì thấy có tấm bia. Ông thầy mới bảo rửa sạch đi để xem bia viết gì. Thì ra tấm bia có khắc một bài thơ: “Ngũ thập niên tiền mạch tại đầu/ Ngũ thập niên hậu mạch quy túc/ Hậu sinh nhĩ bối ná năng tri/ Hà vị thánh nhân vô nhỉ mục?” (Nghĩa là: Ngày nay mạch lộn xuống chân/Năm mươi năm trước mạch dâng đằng đầu/ Biết gì những kẻ sinh sau/ Thánh nhân mắt có mù đâu bao giờ?). Đọc xong tấm bia, ông thầy Trung Quốc kinh hãi, toát cả mồ hôi hột, thì ra Trạng đã tiên liệu mọi việc.
Nguyễn Công Trứ và câu chuyện phá đền Trạng Trình
Trạng Trình
Khu di tích đền thờ Trạng Trình
Năm Minh Mạng thứ 14, Dinh Điền sứ Nguyễn Công Trứ được Vua điều đi khẩn hoang ở vùng Hải Dương. Vấn đề là cần phải đào con sông, mà đào sông thì phải phá đền thờ Trạng Trình. Ông bèn ra lệnh cho dân phu phá đền để đào sông.
Trước khi phá, sai người đào vào đền mang bát hương ra, Nguyễn Công Trứ chợt thấy dưới bát hương có một tấm bia đá nhỏ phủ vải điều. Sau khi lau sạch, tấm bia lộ ra dòng chữ: “Minh Mạng Thập tứ/ Thằng Trứ phá đền/ Phá đền phải làm đền/ Nào ai đụng đến doanh điền nhà bay”. Thất kinh, Nguyễn Công Trứ chẳng những bãi bỏ lệnh phá đền mà còn cho sửa sang lại khang trang hơn.
Không chỉ có ở Việt Nam, trên thế giới còn có rất nhiều nhà tiên tri nổi tiếng tiên đoán rất chính xác những sự kiện xảy ra trong tương lai.
Baba Vanga
Nhà tiên tri Baba Vanga. (Ảnh: varietyportal.com)
Nhà tiên tri Baba Vanga. (Ảnh: varietyportal.com)
Nhà tiên tri lừng danh Vanga sinh ngày 31/1/1911, mất ngày 11/8/1996. Bà sống ẩn dật cả đời mình ở vùng làng quê hẻo lánh Kozhuth thuộc Petrich, Bungary. Năm lên 12 tuổi, bà Vanga mất đi thị lực sau khi bị cuốn bởi một cơn lốc lớn. Người ta tìm thấy cô gái nhỏ vẫn còn thoi thóp hơi thở nằm vùi lấp giữa bụi và đá, hai hốc mắt chứa đầy cát.
Bà Vanga bắt đầu có những giấc mơ kỳ lạ về các thảm họa trên thế giới và sau đó đều trở thành hiện thực. Rất nhiều lần, bà đưa ra lời tiên đoán rằng chiến tranh sẽ xảy ra nhưng người dân trong làng không tin. Nhưng sự thực là nó đã xảy ra và dân làng vô cùng hoảng loạn, nhiều người chết, bị thương và ly tán khắp nơi.
Một buổi chiều tối, khi Vanga đang đứng trước cửa nhà mình thì thấy một kỵ sĩ bước vào và nói :“Mọi thứ trong thế giới sẽ bị đảo lộn, rất nhiều người sẽ chết. Nhưng cô sẽ ở lại đây và sẽ thông báo về những người sống và những người chết. Đừng sợ, ta sẽ ở ngay bên cạnh. Lúc nào ta cũng ở bên để giúp cô”.
Sau đó, người dân làng trở về thì thấy Vanga đứng ở một góc phòng và phát ra những tiếng nói mạnh mẽ. Bà nêu đúng tên, vị trí các sự việc xảy ra, nói kỹ về số phận của những người dân trong làng bị quân Đức bắt đi, ai còn sống, ai đã mất, ai sẽ trở về và trở về khi nào… Điều đó khiến mọi người vô cùng kinh ngạc đã quỳ xuống lạy bà như một vị thánh. Sau đó, thì  mọi chuyện đã xảy ra đúng như những lời bà nói.
Từ đó, tiếng tăm của Vanga bắt đầu lan rộng ra, người ta lũ lượt kéo đến nhà bà. Đặc biệt là những gia đình có người tham gia chiến tranh để xem họ có còn sống hay đã chết và tìm thấy thi hài của họ. Thậm chí, bà lão mù còn mách bảo một số người làm cách nào để tránh né hòn tên mũi đạn, cách chữa trị vết thương bằng cây cỏ, đất sét, mật ong ra sao, làm thế nào để tìm lại kỷ vật đã mất…
Vanga cũng có những dự đoán về số phận cho cậu em trai của mình là Vasil. Khi Vasil gia nhập đảng phái chống đối nhà nước, bà đã gào khóc và khuyên nhủ hết lời vì cho rằng nếu làm như vậy, anh sẽ phải hứng chịu cái chết đau đớn ở tuổi 23. Vasil cho rằng đó là chuyện tầm phào nhưng sự việc đã xảy ra. Tháng 10 năm đó, cậu đã bị bắt, bị tra tấn một cách dã man và kết thúc cuộc đời bằng một cái chết đau đớn.
Có rất nhiều người nổi tiếng đã tìm đến nhà tiên tri mù này. Cụ thể là ngày 8/4/1942, vua Bulgary Boris III đã đến thăm bà. Bà dặn ông hãy nhớ ngày 28/8. Hơn một năm sau, ông đã mất đúng ngày đó 28/8/1943.
Baba Vanga tiên tri chuẩn xác cái chết của Stalin và số phận Hitler
Adoft Hitler. (Ảnh: Wiki)
Adoft Hitler. (Ảnh: Wiki)
Vào năm 1952, bà Vanga dự đoán rằng chỉ một năm nữa thôi, Stalin sẽ mất. Ngay lập tức, bà đã bị chính quyền Bulgary bắt giữ vì tội tung tin đồn thất thiệt khiến người dân hoang mang. Song, thực tế đã chứng minh bà lần này lại đúng. Một năm sau, Stalin chết. Ai nấy cũng đều ngỡ ngàng khi nghe tin này và rùng mình khi nhớ lại lời tiên đoán rợn người của bà lão mù ấy một năm về trước. Chính quyền ngay lập tức phải trả tự do cho bà. Adoft Hitler – người đứng đầu chế độ phát xít Đức cũng đã từng đến gặp Vanga. Ông ra về với vẻ mặt tái mét và rầu rĩ nhưng không ai biết là vì lí do gì. Không lâu sau, Hitler tự tử dưới hầm và Chiến tranh thế giới II kết thúc (năm 1945).
Sự kiện đắm tàu ngầm Kursk.
Tàu ngầm Kursk
Tàu ngầm Kursk
Đúng 20 năm trước khi thảm kịch xảy ra, vào năm 1980, Vanga đã tiên tri rằng: “Cuối thế kỷ này, vào tháng 8/1999 hoặc 2000, Kursk sẽ chìm dưới nước, và cả thế giới sẽ than khóc vì nó.” Ngày đó, không một ai quan tâm đến lời tiên tri buồn cười này. Nhưng rồi người ta mới biết rằng Kurskmà bà nói không phải là về thành phố mang tên Kursk. Con tàu ngầm nguyên tử của Nga được đặt tên theo thành phố này đã gặp sự cố  khủng khiếp và mãi mãi chìm dưới đáy đại dương. Cả thế giới đều luyến tiếc và rơi lệ cho những nạn nhân mắc kẹt trong tai nạn này.
Sự kiện khủng bố 11 tháng 09
Tòa tháp đôi World Trade Center bị khủng bố. (Ảnh: Wiki)
Tòa tháp đôi World Trade Center bị khủng bố. (Ảnh: Wiki)
Lời tiên đoán năm 1989: “Đáng sợ! Đáng sợ! Những anh em sinh đôi của Mỹ sẽ ngã xuống sau khi bị những con chim sắt tấn công. Những con sói sẽ gầm rú trong lùm cây và máu của những người vô tội sẽ chảy”  dường như đã được ứng nghiệm với sự kiện tòa tháp đôi của Trung tâm Thương mại Thế giới (New York) đổ sập bởi vụ tấn công khủng bố ngày 11/9/2001.
Tháp đôi cũng có nghĩa khác là “sinh đôi” (Twins) hay còn gọi là anh em. Những kẻ khủng bố đã khống chế toàn bộ hành khách trên máy bay – “những con chim sắt” – và lao vào tòa tháp. Lùm cây trong tiếng Anh có nghĩa là “bush” nên ở đây có thể cũng ám chỉ đến tên của vị Tổng thống đương nhiệm của G. Bush.
Thảm họa kép động đất và sóng thần Nhật Bản
Thảm họa kép tại Nhật Bản ngày 11.03.2011. (Ảnh: Wiki)
Thảm họa kép tại Nhật Bản ngày 11.03.2011. (Ảnh: Wiki)
Vanga cũng đưa ra lời tiên đoán chính xác về thảm họa kép xảy ra tại Nhật Bản vào tháng 3/2011: “Do những trận mưa phóng xạ nên ở Bắc bán cầu, cả động vật lẫn thực vật đều sẽ bị tuyệt diệt vào tháng 3 năm 2011”.
Đúng như lời bà, vào ngày 11/3/2011, cả thế giới bàng hoàng trước thảm họa kinh hoàng xảy ra tại Nhật Bản. Trận động đất với cường độ 9.0 độ richter, những con sóng thần cao tới 10m, sự rò rỉ phóng xạ từ các nhà máy điện hạt nhân Fukushima I và Onagawa đã đưa nước Nhật bước vào cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất (kể từ sau Chiến tranh thế giới II) với rất nhiều người thiệt mạng.
Khả năng tiên tri của con người quả là phi thường, nhưng không còn quá xa lạ đối với đa số chúng ta…
Nam Minh
(Sưu tầm ở đây )

Thứ Sáu, 20 tháng 2, 2015

Một vài bí mật của hà đồ - lạc thư


Hà đồ và lạc thư là hai đồ thức huyền bí mà từ mấy ngàn năm qua tốn không biết bao nhiêu giấy của các nhà nghiên cứu từ đông sang tây . Bài viết dưới đây là một vài trích đoạn hấp dẫn về nó !
HÀ ĐỒ55
Htừ thượng truyện (chương 10) có viết: “Hà
xuất đồ, Lc xuất thư”. , là sông Mnh (Mnh Hà);
Lc, là sông Lc (Lc Hà).
Tc truyền, đời Phc Hy, có con “nga rng”
long mã ni lên ti Mạnh Hà, trên lưng có nhiều điểm
đen trắng, phân phối như sau:

2 điểm và 7 điểm phía trước
1 ---------- 6 ---------- sau
3 ---------- 8 ---------- trái
4 ---------- 9 ---------- mt
5 ---------- 10 ---------- gia


  Nghiên cứu về Hà Đồ phải nghĩ đến Lạc Thư; nghiên cứu Lạc
 Thư phải nhớ đến Hà Đồ. Hai hình này phải luôn đi cặp nhau
 như một biểu một lý, một thể một dụng, một tụ một tán của Âm 
Dương. Vì vậy,trở về sau, thường hay đem 2 đồ hình này so 
sánh và bàn với nhau.
Cũng như chữ “long mã” dùng chung nhau, kỳ thực ‘long’ là
rồng, (bay lên) tượng trưng lằn kinh (dọc, verticale) ám chỉ thời

 gian(Temps); mã, là ngựa chạy trên mặt đất, tượng trưng lằn vĩ
(ngang,horizontale) ám chỉ không gian (Espace). Cứu cánh mục

 đích của .Dịch là ở chỗ gặp gỡ 2 lằn kinh vĩ, tức là chỗ điểm 
chính giữa của 2 lằn ngang dọc, tức là chỗ thời gian không gian
 hợp nhất, thành ra(nhất niệm vạn niên), một khoảnh khắc cũng
 là một thiên thu vô tận.
(Xin đọc quyển Tinh hoa Đạo học Đông phương trang 30, 31, 32).
Lằn dọc tượng trưng cái THỂ của Âm Dương (Kiền Khôn). Lằn
ngang tượng trưng cái Dụng của Âm Dương (Khảm Ly Thủy Hỏa).



Xem tiếp thì bấm vào đây nhé !
Xem toàn bộ và mở rộng thì vào đây douloat về !

Thứ Ba, 17 tháng 2, 2015

Cao biền tấu thư địa lý kiểu tự

Cao Biền cởi diều đi xem đất !

Về khoa địa lý có những tài liệu quí giá cho việc khảo cứu . Lần này chúng tôi khởi giới thiệu tài liệu “Cao Biền tấu thư địa lý kiều tự” là tập tài liệu nói về các kiểu đất kết bên Việt nam mà Cao Biền trình về vua Đường Trung Tông. Những đất nói trong tập này có ngàn kiểu mà Cao Biền mới yểm được một số ít đất Đế vương quí địa còn cả ngàn đất Công hầu, Khanh tướng vẫn còn nguyên vẹn. Các cụ xưa giữ sách này làm gia bảo và theo nó tìm cho ra đất kết dành cho họ hàng mình dùng khi cần đến.

Xuất xứ sách
Xưa kia về đời Vua Đường Trung Tông bên Tàu có Cao Biền được phong là “An nam tiết độ sứ” sang đô hộ nước ta, là người rất giỏi địa lý được vua Tàu uỷ cho sứ mạng trình về vua biết các kiểu đất bên Việt nam và yểm phá các đất kết lớn nào khả dĩ có ảnh hưởng cho Trung Quốc.
Sau khi nhận chức và khảo sát địa lý bên Việt nam, Cao Biền thấy nước ta có nhiều đất phát rất lớn có thể tạo nên những bậc tài giái mà sự nghiệp khả dị ảnh hưởng cho Trung Quốc trong vấn đề Nam tiến biên soạn tập “Cao Biền tấu thư địa lý kiều tự” này trình về vua Đường đồng thời dùng phép yểm phá một số Long mạch có đất kết lớn. Truyền thuyết có nói trước khi yểm một kiểu đất nào Cao Biền thường lên  đồng để kêu các vị thần cai quản khu vực đó nhập vào đồng Nam, đồng Nữ rồi trừ đi , sau đó mới ra yểm đất. Cũng theo truyền thuyết Cao Biền có yểm được một số ít đất lớn song cũng bị thất bại trước nhiều vị thần linh trong đó đáng kể nhất là “Tản viên sơn Thần” và “Tô lịch giang Thần” (núi Tản viên thuộc huyện Bất Bạt tỉnh Sơn tây và sông Tô lịch chảy qua Hà nội ở Ô Cầu Giấy (gần làng Láng). Đền Bạch Mã ở Hàng Lược Hà Nội là đền thờ thần Tô Lịch.
Trải qua Đường Tống đến đời nhà Minh có Trương Phô, Mộc Thạch và Hoàng Phúc là ba danh tướng Trung Hoa được Minh đế cho kéo quân sang Việt nam bề ngoài với danh nghĩa phò hậu Trần diệt Hồ nhưng bên trong có mang một kế hoạch diệt chủng người Việt và đổi nước ta thành quận huyện của Trung Quốc. Kế hoạch này tỉ mỉ và thâm độc hơn những kế hoạch tương tự mà người Hán đã làm từ xưa đến giờ.Trong số 3 danh tướng Trung Hoa này thì Hoàng Phúc là người rất giỏi địa lý có mang theo “Cao Biền tấu thư địa lý kiều tự” sang duyệt xét lại và yểm nốt những đất kết lớn nào còn sót lại cho Việt nam không thể còn có những thế hệ thịnh trị sản sinh ra được những nhân tài xuất chúng như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo đã làm khó khăn cho Trung Quốc như trong thời đại Lý và Trần vừa qua. May thay Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã khôn khéo và kiên trì lãnh đạo cuộc kháng Minh đến thành công sau 10 năm gian khổ. Khi bắt sống được Hoàng Phúc ta thu được toàn bộ tài liệu của kế hoạch nêu trên trong đó có cả tập “Cao Biền tấu thư địa lý kiều tự”.
Bây giờ tập sách này trở nên một tài liệu vô cùng quý giá cho ta trên nhiều phương diện: Sử liệu, chính trị, địa lý.
1. Trên phương diện sử liệu nó là một sử liệu cổ xưa có giá trị. Tài liệu này soạn thảo từ ngàn năm trước.
2. Trên phương diện chính trị: Nó là tài liệu chứng minh một cách cụ thể chính sách người Hán và tham vọng của họ với dân tộc Việt nam.
3. Trên phương diện địa lý: Nó là một áng văn tuyệt tác về phép mô tả các kiểu đất kết mà các cụ xưa kia thường dùng để soi sáng cho việc học “Tầm Long”. Chúng tôi đã thấy và có nghe nói nhiều đến các cụ địa lý, hơn nữa cả bọn thanh niên để cả chôc năm liên tiếp với chiếc ô (dù) và tay nải đi hết làng nọ sang làng kia, tỉnh này sang tỉnh khác nghiên cứu thực hành “Tầm Long mạch” qua sự chỉ dẫn địa danh và thế đất mô tả trong “Cao Biền địa lý tấu thư kiều tự”. Quyền địa đạo diễn ca của cụ TẢ AO mà chúng tôi biên nơi đây chú trọng đến việc tầm Long tróc mạch nên chúng tôi xin cống hiến quý bạn một phần đầu quyển “Cao Biền tấu thư địa lý kiều tự”. 
Cao Biền đề cập đến 632 huyệt chính và 1517 huyệt bàng của các tỉnh.
Hà Đông
81 chính
246 bàng
Sơn Tây
36 chính
85 bàng
Vĩnh Yên, Phúc Yên, Phú Thọ
65 chính
155 bàng
Hải Dương, Hưng Yên, Kiến An
183 chính
483 bàng
Gia Lâm, Bắc Ninh, Đáp Cầu, Bắc Giang, Lạng Sơn
134 chính
223 bàng
Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình
133 chính
325 bàng
Cộng
632 chính
1517 bàng
Sách này có ghi chép tuần tự các huyệt của từng tỉnh, ghi râ nó tọa lạc tại huyện xã, ấp nào nêu các cụ ngày xưa theo đó học “Tầm Long” tróc mạch dễ dàng.
Phần đầu đề cập đến tỉnh Hà Đông trong đó có 81 huyệt chính và 246 huyệt bàng.
- Huyện Thanh Oai
9 chính
26 bàng
- Chương Đức (Chương Mỹ và Mỹ Đức)
11 chính
34 bàng
- Sơn Minh (ứng Hoà)
9 chính
26 bàng
- Hoài An
6 chính
19 bàng
- Thanh Trì
11 chính
41 bàng
- Thường Tín
11 chính
41 bàng
- Phú Xuyên
7 chính
20 bàng
- Từ Liêm
11 chính
34 bàng
- Đan Phượng
5 chính
13 bàng
Cộng
81 chính
246 bàng
ở những tay Long Hổ án sa.v..v.. của những huyệt chính thường có những huyệt kết khác nữa gọi là kết bàng. Nơi nào có ghi thêm C/B2 hay C/B3 hoặc C/B4.. ở cạnh địa danh có nghĩa là đây là huyện chính và kiểu đất này còn có 2 hay 3 hay 4 huyệt kết bàng nữa (sách chỉ nói đến huyện chính).ở đây chúng tôi chỉ giới thiệu kiểu đất ở hai huyện Thanh Trì và Chương Đức để làm tài liệu phô khảo. Chúng tôi sẽ in toàn bộ thành sách sau khi được bàn luận với các vị đã khảo sát thực tế các đất ghi trong sách “Cao Biền tấu thư địa lý kiều tự”
Cao biền tấu thư địa lý kiều tự
Việt tự tích Đường Trung Tông thời, Cao Biền vi Thái- sử chỉ ý tôn thời tình hữu Giao Châu chi Quận Huyện, đế tư cập úy Đà, xưng thần cự Hán chi cố sự, Cao Biền vi An Nam Đô hộ sứ. Biền tương vãng, chi thời, đế triệu nhập ngự điện vị viết. Công học địa lý tới vi linh diệu, trẫm văn: An - Nam đa hữu thiên tử quý địa, công dương dông lực ngô môc, hoặc hữu áp chi triễn binh sinh chi kinh luân thuật thánh hiền chi qui củ, đoạt thần công nhi cải thiên mệnh, nhiên vi tiễu thảo trừ căn, chi đồ thứ cơ vô hậu tệ, tường suy phong thuỷ, biến lãm sơn xuyên, nhất nhất diễn ca lập kiều, Trẫm đắc tiễn văn giả. Cao Biền thô mệnh nhi khứ, trực đế An Nam kế giữ mộc chi vi phi diện chi pháp, tự thừa kú thượng, án muông trung nhi du quan, tầm Long nhận mạch sở kiến nam quốc hình thế đại cán hành Long lưìng chi thiền chiều tịnh tiến. Nhất hữu chi Long, khởi tự ải quan, phân mao Sơn Hựu biệt sinh: tả, hữu, trung, nam nhi chi giáng, Long mạch phân chi, chi các hữu phái, tĩnh âm, tĩnh dương, Long Hổ khí chung, càn khôn đạo hợp nãi thị địa linh nhân kiệt, nguy nhiên thánh hiền, thần võ chi hồng lượng mỹ kỷ Biền tự trầm ngâm khẩu quyết, mặc thức tâm cơ, huyết mạch u huyền, cường lực dũ ra áp chi bất đắc, cố bất cảm động. Đông Tự nam hải đằng giang, Tây tự. -Tiểu khê lão cực Nam Việt Quảng Hà, Nam Xiêm Thành, Bắc Tự Quảng Hà, Đồng Xá, hệ đại huyết mạch các cụ c vi ngũ ngôn ca, kú thứ huyết mạch các cụ c, vi thứ ngôn ca, tha thư tiểu mạch giả bất túc lập luận cố sĩ hậu lai sảo tâm minh môc, quảng thị trí lực, vi khởi dô chi diệu doan túc kú.
Giao Châu Đô Hộ sứ, thần Cao Biền cẩn tấu vi bản châu địa mạch thế hình thế sự, thần hạnh phát dư sinh thao ty hà nhưìng, thượng tự thám sơn, hạ chí đại hải, ngưìng quan phủ sát, phát tận chân cá, kú tự thiên hữu, cảm bất khánh kiệt sở kiến văn, thượng tự đế vương, vương công - công hầu, vương phi, thứ thần đồng, tú tài, khoa đệ, phú quý phát vinh các cụ c trạch ca trần tấu, vi chi thị phủ, phôc khất phủ lãm giao quan chi khí, kiến văn cụ lôc.
Hà Đông
Thanh oai: 9 chính, 26 bàng
1. Đệ nhất: Thanh Oai Phong (C/A4) ấp Trung Thanh Uy hình thế tối kú thuỷ lưu tư vương, án khởi tam quy, mạch tồng hữu kết, khí địng tả y, thần đồng tiến lập, quỷ sứ, hậu, tú khôi khoa tảo chiếm, phúc lợi vinh tuy, tu phòng mạch tận, thừa sự vô nhi.
2. Đệ nhị: Cao Xá Phong (C/B2) Thanh Oai Cao Xá, chân vi qui Long, thuỷ khê tuú mạch, bình dương lái tung, hoa khai hữu Hổ, tinh hiện tả Long, sơn thuỷ trù mật khí thế sung giong, hà tu hộp hải, ngưu giác loan cung, chủ khách hoàn mỹ, tả hữu hộ tòng, hoa tâm khả hạ, thế xuất anh hùng, Vô Lăng văn khôi khoa giáp. võ tổng binh nhung, phú qíu thọ khảo, kiêm hữu kú công.
3. Đệ tam: Vô Lăng phong (C/B2) Thanh Oai bình thế khả sung, tả sơn Thuận Giang, hữu thuỷ nghịch thăng, đường tám tích ngọc, án diện phó tầng, cân thuỷ chức kết, viễn sơn từng lăng, tHổ tinh lạc sử, cát huyết thi bằng, nhược năng hiện nhận, khoa đệ diệp đăng.
4. Đệ tứ : Cổ Hoạch phong (C/B2) Thanh Oai Cổ Hoạch, đoản hình tràng nhạo, thế giắng hữu cung, mạch sinh tả giúc, bút giả sâm van đốn sang sáp ngọc, hữu thuỷ tám hoành, tả sơn hồi thác, phân minh ký cổ, la hệt thành quách, văn chủng khôi khoa, võ chuyên tướng trách, nội thế tuy giai, ngoại hình cân bách, nọa khởi nhân chiếu, nghiệt do kỷ tác.
5. Đệ ngũ: Đại Định Phong (C/B6) Thanh Oai Đại Dịnh di tích kú tung, Long hoả Hổ hoả, chủ tòng khách tòng, tiểu giang dẫn mạch, Bình địa sinh phong, sơn thuận sơn nghịch, thuỷ chủ thuỷ sung, quần sơn điệp điệp, chủng thuỷ trùng trùng, trầm hết khúc thời, tái bút giả giong, thừa dư thủ túc, huyệt tại Viên trung, văn chiếm khoa giáp, võ tổng binh nhung bằng hữu huyệt quái, âm mạch khí chung nữ phát phi hậu, phú quý xương Long.
6. Đệ lôc: Kim Bài phong (C/B4) Thanh Oai Kim Bài, lưìng phương phi lai, song đồng hoàn trì, lúc tử nhập hoại, nội hình tương ứng, nội thế tương lai, thiềm tâm khí kết, Long não tinh ta, chủ minh khách mỹ, sơn tĩnh thuỷ giai, huyệt cư trung cấp, táng pháp vô sai, võ xuất khanh tương, văn trạc khoa đài.
7. Đệ thất: Bối Khê phong (C/B2) Bối Khê chi địa hình như thào xà, sơn thuỷ chức kết, Long Hổ bài nha, văn bút đảo địa, bình dương khai da, viên phô giáng thế, giang thuỷ giao la, hà tu giới thuỷ, thiên dực loan xa, thế xuất khanh tướng, đại đại vinh hoa.
8. Đệ bát: Sinh Quả phong (C/B4) Thanh Oai Sinh Quả cát địa diệc khả, Hổ sơn Long hồi, Long sơn Hổ hoá, đại phô khí tàng, tiểu khê quan toà, bác hoàn vi ký tiễn tài lương bạ, đảo trạc khôi khoa, viên đằng thanh giá, hiềm thuỷ phân lưu, dông chung hữu xả.
9. Đệ cửu: Bảo- Đà phong (C/B4) Bảo Đà Thanh Uy thuỷ thế my thi, đại giang loan quả, tiêu thuỷ chứng quy, lôc năng chiều hội lương phương giao phi, văn tinh tiền án, viên phủ hậu thuỷ, huyệt tại chung cấp, thừa dư khả y công hầu thế xuất, hào kiệt tế thi, danh cao Hổ tưởng, vi chốn hoa dị, nhược tàng Long dịch, nữ vương phi, nam chủng khoa giáp, phát đạt vô nghi.

Chương Đức (Chương Đức và Mỹ Đức) 11 chính 34 bàng.
1. Đệ nhất: Vĩnh - Lữ phong (C/B6) Chương Đức Vĩnh Lữ ký mạch cân tự, tư thế cao sơn, chung thuỷ đệ trư huynh đệ tương đăng, quần thần tương giữ, huyệt thử túc dư, danh khôi khoa cử, thừa hưởng thiên nhiên, vô yêu trát sự. 
2. Đệ nhị: Cống - Khê phong (?) Cống - Khê Chương Đức - hình thế khả kú, tứ sơn giai củng, chúng thuỷ hàm quy, Long trùng hồ điệp, chủ nghinh khách tuú, xa sinh trầm hốt, thuỷ hội nghiên trì, cao sơn thủ túc, phú quý vô nghi, nam phát võ tướng, nữ phát cung phi, nam nữ giai quý, phúc lộc vĩnh tuy.
3. Đệ tam: Thanh - Động phong (?) Chương - Đức Thanh - áng (nay thuộc ứng Hoà), canh lưìng Long lai, đại hà vệ khí, ngọc nữ hoài thai, Long Hổ Chiều Củng, hình thế phô bài, la liệt thành quách, hiệu khiết lâu đài, chử minh khách mỹ, thuỷ tĩnh sơn giai, đường thiên thuỷ đề, án cao sơn nhai, thuỷ Long dư nhũ, cát huyệt khả tài, võ sinh tướng suý, văn chiếm khoa đài đại địa cực quý đoán dịch vô sai.
4. Đệ tứ: Chi - Nê Phong (C/B2) (Nay cải tổ sơn xã Chương Đức) Chương Đức - Chi - Nê, sơn hình võ trô, Long hồi Hổ hoàn, mạch tàng khi tô, hạ hợp thương phân, tả giao hữu cố, án đới Hổ yêu phong sinh Long thử, khí kết hoa tâm, huyệt tòng Long nhũ thế xuất Công Khanh, sĩ lăng tề phô.
5. Đệ ngũ: Lai -Tảo Phong (C/B3) Chương Đức Lai Tảo địa hình diệc hảo khí như tuyến hồi, mạch như sà thảo, bình dương sơn loan, đại hà thuỷ đáo, chủ khách chuy tuú, Long Hồ hoàn bão, huyệt tại hoa tâm, Mạc tài Long não, thế xuất Công khanh phú quý (xuất) cảo.
6. Đệ lôc: Tiểu ứng Phong (C/b3). Tiểu - ứng Chương Đức, Phượng tường lưìng dực thuỷ tô trùng trùng, sơn sai sực sực, vạn thuỷ thiên sơn, tam hoành tứ trực, thảo vị khí tài, hoa tâm khả thực, văn võ phát vinh, tam công vi cực, phú quý thời ưu, đại đại phó tức.
7. Đệ thất: Liễu - Nội phong (C/B5). Liễu Nội chí địa, thị diệc quý Long, âm sơn bái tướng, dương sơn phú trung, Long hoá Hổ hoá, Long trùng Hổ trùng, chúng thuỷ lưu trữ, quần sơn la tung, huyệt tại thượng phúc, võ chí hậu phong, nữ phát hậu phi, phú quý xương Long, trung hữu cát huyệt, án đới thanh Long, tam thai chu tước, văn sĩ tam công.
8. Đệ bát: Tràng - Cốc phong (C/B6) Địa danh tràng - cốc, hình như phượng hoàng, nội kú, ngoại cổ, tiền cương, hậu giang, Long Hổ hoàn não, chủ khách huy hoàng, bình nguyên thuỷ diệu, viên phô khí tàng, thế xuất võ tướng, vị chí hầu vương.
9. Đệ cửu: Yên - Ninh phong (C/B2) Chương Đức yên Ninh, khí tô Long đình, tả toàn hữu cố, Hổ ẩn Long sinh, sơn họp thuỷ chỉ, khách tựa chủ nghinh, huyền quy ứng hậu, chu tước bái đình, huyệt tại chung cấp, Công hầu phát sinh kế thế võ tướng, kiêm vương nhân đinh. 
10. Đệ thập: Do - Lễ phong (C/B2) Chương Đức Do - Lề, chân Long sở sỹ chi đại lâm loan sơn, thâm dầm chú thuỷ, tiểu giang tế Long, đại hà dưìng khí, Long Hổ bài nha, quân thần giao hỷ, huyệt tại Viện trung, Công hầu đăng đối, phú quý kiêm ưu, khả vi toàn mỹ 
11. Đệ thập nhất: Chúc - Sơn phong (C/B1) Chương Đức Chúc - Sơn (nay thuộc Chương Mỹ) Hổ Long hồi hoàn, tiền hữu thuỷ chữ hậu hữ sơn loan, đại hà dẫn mạch, hồng kú chấn quan, hình thế tương hợp, chủ khách tương hoàn, huyệt tai chung phúc, thế xuất cao quan, võ đa văn thiểu, văn toán chiêu ban. 
Sơn Minh (ứng Hoà) 9 chính 26 bàng
1. Đệ nhất: Xà - Kiều phong (C/B4) Sơn Minh Xà Kiều hình như phượng vũ, giang lưu thoát tung, tinh phong nhạc nhũ, thiên thể dung tâm, địa khí danh ngũ, Hổ báo Loan đầu, Long đoàn cung thủ, khanh tướng thời sinh, khả văn, khả vũ, vị liệt thai đặc danh cao suý phú.
2. Đệ nhị: Lưu - Khê phong.(C/B2) Sơn Minh Lưu Khê, án chính sơn tề, quy tàn bích động, hoa thì kim chỉ, sơn thuỷ loan cung Long Hổ giao thi, âm lai dương thô, huyệt tòng tả y: thế xuất Khanh tướng, phát lộc trùng lai.
3. Đệ tam: Đông - Phỉ phong (C/B2 Sơn Minh Đông Phi Long Hổ giao tý, tứ thuỷ nhập hoài, bát thần vệ khí tam cấp mạch sinh, ngũ thốn sơn trỉ huyệt tại thừa dư, chủ đăng khoa sỹ, vị liệt Công khanh, phúc lộc phú quý.
4. Đệ tứ: Tảo- Khê phong (C/B4) Tảo - Khê chân Long hình thể sung giong, Long bàn Hổ hoá, thuỷ tam sơn cùng đại khê dẫn mạch, bình địa sinh phong, tam thai hoãn trí, chúng thuỷ chiều, cung thiên chung viên tọa, thế thượng bầu công, đại đại phú quý, phúc lộc xương Long.
5. Đệ ngũ: Dương - Khê phong (C/B7) Dương khê chí địa, hình thế khả quan, sơn chỉ thuỷ tô, Hổ cứ Long bàn, tiền phân tam thuỷ, hậu ứng quần sơn, tả hữu đang đối, chủ khách tương hoan, hoa tâm khả hạ, thảo vi khá an, thế xuất khanh tướng, phú quý bình an.
6. Đệ lục: Đông - Dương phong (C/B1) Sơn Minh Đông Dương. Thế giáng bình dương, Long vệ tống mạch, Hổ báo chiều tương, kú cổ bài liệt, hình thế la chương, sơn tòng hữu đáo, dứt giá Long bàng, huyệt tại chung cấp, thừa khí khả tàng, thế xuất khoa, giáp vi cận quân vương.
7. Đệ thất: Tử Dương phong (C/B3) Sơn Minh Tử Dương, thế chính hình ngang, thuỷ đàm Long khẩu, sơn dôc Hổ giáng, thuỷ chiều sơn bão, thai án châu trang, tả hữu trù mật, chủ khách huy hoàng khí thuú dư tức huyệt tại cung tràng, thế xuất Khanh tướng, cần hậu quận vương, nhược thuỷ viên nhũ, khi phát phi hoàng, nam nữ toàn mỹ, phú quý vinh xương hiện như bất thực, khủng sinh bất tường (có giả huyệt) tất thô tai ương.
8. Đệ bát: Đạo Tú phong (C/B4) Sơn Minh Đao Tú, Long hoàn Hổ cố, hình thế bài nha, khí mạch ngưng chủ hữu sơn bái chiều, tả giang chiều hộ, thuỷ nội ấn phù, đường tâm khí huyệt tại Tốn sơn, thời sinh tể phô, thuận nghịch lượng thủ, nam nữ cẩn ưu, tùy thích an.
9. Đệ cửu: Sơn Minh phong (C/B3) Sơn Minh khí chuẩn Long Hổ phù cung đại giáng chiết thuỷ, bình dương lại tung, hoa khai đoá đoá, tinh hiện trùng trùng, khi trông thảo vĩ, huyệt tại viên chung, chử phát Khanh tướng đại đại vô cùng.
Tài liệu truyện hay về Cao Biền   Tiếp theo