Thứ Hai, 2 tháng 3, 2015

Lịch tiết khí


Dùng vào mọi môn học thuật cổ truyền , để xác định ngày giờ cho chính xác !
Tra cứu ở đây ! Hoặc ở đây


CÁCH XÁC ĐỊNH GIỜ TÝ LƯỢM NHẶT TRÊN MẠNG .
Là người làm dự đoán, học theo sách nào, Thầy nào thì trung thành với Sách-Thầy đó, không phải cứ “đứng núi này trông núi nọ“, rốt cuộc không rút ra được kinh nghiệm trong dự đoán.

Trong sách ”DỰ ĐOÁN THEO TỨ TRỤ” và “DỰ ĐOÁN THEO CHU DỊCH” của Thiệu Vĩ Hoa, người đang rất nổi tiếng của Trung Tâm Tham Dự Học Trung Quốc, đã khảo nghiệm qua hàng ngàn trường hợp, thì cho biết rằng cho dù sinh tại bất cứ Quốc Gia nào, đều phải chuyển đổi thành Giờ Bắc Kinh để lấy lá số, hoặc là lấy Tứ trụ thì dự đoán mới chính xác.

Chúng tôi trong dự đoán thường kết hợp nhiều phương pháp để bổ sung cho nhau: TỬ BÌNH-TỬ VI-CHU DỊCH-HÀ LẠC…mỗi phương pháp đều có những ưu điểm cũng như sự hạn chế của nó…Nếu chỉ dùng một phương pháp dự đoán thì không khai thác được hết những dữ kiện của cả một đời người.

Chúng tôi cũng đã kiểm nghiệm rất nhiều trường hợp người sinh ở nước ngoài, chuyển đổi thành Giờ Bắc Kinh để lấy Tứ trụ và lá số, dự đoán độ chính xác cao (chủ yếu là theo thông tin phản hồi của khách hàng).

Bàn về 12 giờ âm lịch
Có rất nhiều khách hàng gởi thông tin hỏi chúng tôi về việc lấy giờ sinh như thế nào để xem lá số TỬ VI chính xác.

Để đáp ứng nhu cầu của nhiều người muốn tự mình lấy lá số trên mạng được chính xác, cũng như khi khách hàng đóng phí và gửi thông tin giờ sinh cho TuviGLOBAL để xem tử vi XXX , thì chúng tôi phải xử lý như thế nào trước khi an sao luận đoán.

Sau đây chúng tôi xin giải đáp một số vướng mắc xung quanh việc lấy giờ theo ngày tháng âm lịch như sau:

- Tất cả các lập trình lấy lá số trên mạng thường lấy giờ TÝ từ 23h00 đêm ngày hôm trước đến 01h00 giờ sáng ngày hôm sau, (các giờ khác cứ tuần tự nối tiếp 2 giờ đồng hồ/1 giờ âm lịch). Như vậy nên đa phần đều sai, dẫn đến bình giải sai theo.

- Vì trái đất tự quay xung quanh nó theo một trục nghiêng nên sự chuyển giờ của 12 tháng không thể " đồng loạt" giống nhau được.

- Phải xác định giờ sinh theo tháng âm lịch, có nghĩa là theo sự chuyển tiết khí.

Ví dụ: Năm 2006 LẬP XUÂN lúc 13h14' ngày 17 tháng 12 âm lịch. Như vậy, tuy còn là năm BÍNH TUẤT nhưng nếu ai sinh từ giờ phút ngày tháng trên thì đã tính là sinh tháng giêng năm ĐINH HỢI. Cho đến 07h24’ ngày 17 tháng 1 âm lịch năm 2007 chuyển tiết khí KINH TRẬP thì tính là tháng 2 âm lịch. Cứ tương tự như vậy mà tính các tháng tiếp theo.

Căn cứ theo cách tính trên để áp dụng tính giờ trong rất nhiều lĩnh vực như an số Tử Vi, Bói Dịch, cất nhà, khai trương v.v…

- Cụ thể sự chuyển giờ của các tháng (lấy giờ TÝ làm mốc), các giờ kế tiếp thì cứ cộng thêm 2 giờ đồng hồ là được:

+ Tháng 1 âm lịch giờ TÝ từ 23h30 (hôm trước) đến 1h30

-------- 2 ------------------------ 23h40 ----------------- 1h40

-------- 3 ------------------------ 23h50 ----------------- 1h50

-------- 4 ------------------------ 00:00 (ngày đó) đến 02h00

-------- 5 ------------------------ 00:10 ----------------- 02h10

-------- 6 ------------------------ 00:00 ----------------- 02h00

-------- 7 ------------------------ 23h50 (hôm trước) -- 1h50

-------- 8 ------------------------ 23h40 ----------------- 1h40

-------- 9 ------------------------ 23h30 ----------------- 1h30

-------- 10 ---------------------- 23h20 ----------------- 1h20

-------- 11 ---------------------- 23h10 ----------------- 1h10

-------- 12 ---------------------- 23h20 ----------------- 1h20

(Cách tính giờ như trên theo môn phái “Bốc Phệ" mà chúng tôi nghiên cứu, đã lưu truyền nhiều đời, thấy ứng nghiệm đúng.
Ví dụ: khi còn trong giờ ”không vong*” thì không thể gieo quẻ được).

- Chúng tôi trong quá trình dự đoán chủ yếu ứng dụng Tử Bình (dự đoán theo Tứ trụ), và Bát Quái (dự đoán theo Chu Dịch), là chính. Chúng tôi chỉ ứng dụng những tổ hợp SAO đặc biệt (những sao an theo ngày-tháng-năm) trong Tử Vi, vì lý do sau:

- Nhiều lá số giờ sinh không rõ ràng nên khi an các cung trên lá số có thể bị sai địa chỉ. Các SAO ở các cung quan trọng như PHÚC-MỆNH-THÂN đã bị di chuyển sai chỗ thì toàn bộ lá số đã đều là “của ai đó”. Các tiêu chí thông tin không đúng với mình, không dùng được. Nếu gặp trường hợp giờ sinh không rõ ràng thì chúng tôi chỉ xem việc an sao Tử Vi như một tài liệu để tham khảo.

- Gặp tháng nhuần, thì cứ sau ngày 15 âm lịch của tháng nhuần sau được tính là tháng kế tiếp. Chúng tôi thấy rất phiến diện, vô căn cứ, không có cơ sở khoa học. Các nhà nghiên cứu Tử Vi cũng khẳng định đây là một sự hạn chế của khoa Tử Vi.

- Những ai sinh ở Miền Nam trước giải phóng 30/4/1975 hoặc ở bất cứ nước nào, khi muốn xem Tử Vi cần nói rõ nơi sinh để chuyển đổi thành giờ Bắc Kinh** hoặc giờ Hà Nội mới xem được chính xác.

Có những khách hàng cung cấp cho chúng tôi thông tin giờ sinh đúng vào giao điểm chuyển giờ. Gặp trường hợp này rất khó khẳng định giờ sinh. Vì vậy khi dự đoán có phần hơi “chung chung", bởi vì muốn định được giờ sinh chính xác thì phải căn cứ vào hàng loạt sự kiện chính mà đương số đã trải qua, (mà chúng tôi lại không biết), ví dụ: đau bệnh nặng, tai nạn, cưới vợ hoặc chồng, sinh con, xuất ngoại v.v…Vì vậy người nào muốn xem Tử Vi mà lại không nhớ chính xác giờ sinh (trúng vào giờ giao điểm chuyển giờ), thì nên cung cấp những thông tin chính của cuộc đời mà mình đã trải qua để chúng tôi cân nhắc nghiên cứu trong dự đoán, tìm xác suất cao nhất.

xxx

Chú thích:
* Giải nghĩa giờ "không vong": giờ không vong tính theo Can Ngày. Ví dụ hôm nay ngày GIÁP DẦN, can GIÁP VÀ KỶ bị TRIỆT tại THÂN-DẬU. Vì vậy, 2 GIỜ Thân-Dậu gọi là giờ 'không vong'.

**Giờ Bắc Kinh: Theo kinh nghiệm của những nhà nghiên cứu Mệnh lý Trung Quốc, nhất là theo Thiệu Vĩ Hoa, người đang nổi tiếng không những ở Trung Quốc mà còn có uy tín trên lĩnh vực dự đoán Mệnh số của nhiều Quốc gia. Theo kinh nghiệm của ông Hoa thì đều phải chuyển đổi thành ra giờ Bắc Kinh, mới dự đoán chính xác. Ông Hoa đã thử nghiệm rất nhiều trường hợp, và nghiệm thấy đúng.
BÀN VỀ 12 GIỜ ÂM LỊCH
Có rất nhiều khách hàng gởi thông tin hỏi chúng tôi về việc lấy giờ sinh như thế nào để xem lá số TỬ VI chính xác.
Để đáp ứng nhu cầu của nhiều người muốn tự mình lấy lá số trên mạng được chính xác, cũng như khi khách hàng đóng phí và gửi thông tin giờ sinh cho TuviGLOBAL để xem tử vi trọn đời và trọn năm (xem Hạn), thì chúng tôi phải xử lý như thế nào trước khi an sao luận đoán.

Sau đây chúng tôi xin giải đáp một số vướng mắc xung quanh việc lấy giờ theo ngày tháng âm lịch như sau:

- Tất cả các lập trình lấy lá số trên mạng thường lấy giờ TÝ từ 23h00 giờ đêm ngày hôm trước đến 01h00 giờ sáng ngày hôm sau, (các giờ khác cứ tuần tự nối tiếp 2 giờ đồng hồ/1 giờ âm lịch). Như vậy nên đa phần đều sai, dẫn đến bình giải sai theo. (Quý khách hàng có thể tham khảo thêm Cách Xác Định giờ Chính Ngọ của Hồ Ngọc Đức để biết thêm chi tiết).

- Vì trái đất tự quay xung quanh nó theo một trục nghiêng nên sự chuyển giờ của 12 tháng không thể " đồng loạt" giống nhau được.

- Phải xác định giờ sinh theo tháng âm lịch, có nghĩa là theo sự chuyển tiết khí.

Ví dụ: Năm 2006 LẬP XUÂN lúc 13h14' ngày 17 tháng 12 âm lịch. Như vậy, tuy còn là năm BÍNH TUẤT nhưng nếu ai sinh từ giờ phút ngày tháng trên thì đã tính là sinh tháng giêng năm ĐINH HỢI. Cho đến 07h24’ ngày 17 tháng 1 âm lịch năm 2007 chuyển tiết khí KINH TRẬP thì tính là tháng 2 âm lịch. Cứ tương tự như vậy mà tính các tháng tiếp theo.

Căn cứ theo cách tính trên để áp dụng tính giờ trong rất nhiều lĩnh vực như an số Tử Vi, Bói Dịch, cất nhà, khai trương v.v…

- Cụ thể sự chuyển giờ của các tháng (lấy giờ TÝ làm mốc), các giờ kế tiếp thì cứ cộng thêm 2 giờ đồng hồ là được:
(Cách tính giờ như trên theo môn phái “Bốc Phệ" mà chúng tôi nghiên cứu, đã lưu truyền nhiều đời, thấy ứng nghiệm đúng.
Ví dụ: khi còn trong giờ ”không vong*” thì không thể gieo quẻ được).

- Chúng tôi trong quá trình dự đoán chủ yếu ứng dụng Tử Bình (dự đoán theo Tứ trụ), và Bát Quái (dự đoán theo Chu Dịch), là chính. Chúng tôi chỉ ứng dụng những tổ hợp SAO đặc biệt (những sao an theo ngày-tháng-năm) trong Tử Vi, vì lý do sau:

- Nhiều lá số giờ sinh không rõ ràng nên khi an các cung trên lá số có thể bị sai địa chỉ. Các SAO ở các cung quan trọng như PHÚC-MỆNH-THÂN đã bị di chuyển sai chỗ thì toàn bộ lá số đã đều là “của ai đó”. Các tiêu chí thông tin không đúng với mình, không dùng được. Nếu gặp trường hợp giờ sinh không rõ ràng thì chúng tôi chỉ xem việc an sao Tử Vi như một tài liệu để tham khảo.

- Gặp tháng nhuần, thì cứ sau ngày 15 âm lịch của tháng nhuần sau được tính là tháng kế tiếp. Chúng tôi thấy rất phiến diện, vô căn cứ, không có cơ sở khoa học. Các nhà nghiên cứu Tử Vi cũng khẳng định đây là một sự hạn chế của khoa Tử Vi.

- Những ai sinh ở Miền Nam trước giải phóng 30/4/1975 hoặc ở bất cứ nước nào, khi muốn xem Tử Vi cần nói rõ nơi sinh để chuyển đổi thành giờ Bắc Kinh** hoặc giờ Hà Nội mới xem được chính xác.

Có những khách hàng cung cấp cho chúng tôi thông tin giờ sinh đúng vào giao điểm chuyển giờ (ví dụ: 6h00 sáng, 15h00 chiều,…) gặp trường hợp này rất khó khẳng định giờ sinh âm lịch. Và đa phần khách hàng phải đóng thêm phí Xác định giờ sinh để chuyên gia tìm giờ sinh trước khi chấm tử vi.

Hoặc là có khách hàng chỉ nghe cha mẹ nhớ lại mang máng là sinh khoảng mấy giờ gì đó, tức là giờ sinh không rõ ràng nên khi lập lá số là sẽ không dám chắc chắn rằng đó có phải là lá số của mình (khách hàng) hay không, nếu lập sai giờ sinh thì toàn bộ các tiêu chí thông tin trên lá số là của ai đó không đúng với các tiêu chí thông tin về vận số của người cần xem, không dùng được.

Nếu gặp trường hợp giờ sinh không rõ ràng thì nên cung cấp cho chúng tôi biết rõ (càng cụ thể càng tốt), những sự kiện chính đã xảy ra với mình như những may mắn hay rủi ro đã xảy ra năm nào, được khen thưởng, bị kỷ luật…kết hôn, ly hôn (nếu có) vào năm nào. Tuổi của người phối hôn, tuổi của hào con út (tính đến thời điểm hiện tại), hoàn cảnh kinh tế, công việc làm ăn của đương số trong những năm gần đây xem năm nào có sự kiện may mắn hay thuận lợi hay trở ngại gì để chúng tôi so sánh với giờ Sinh trước, hoặc sau đó xem lá số nào có nhiều điểm phù hợp với các thông tin cá nhân của đương số cung cấp thì làm dự đoán theo giờ sinh đó.

Nói chung khi đã tốn tiền để làm lá số tử vi thì ai cũng muốn nắm rõ được vận số của mình sẽ như thế nào qua các vận tốt-xấu mà có định hướng ứng phó cho phù hợp.

Chẳng hạn như với người Tiểu thương gặp vận tốt thì cố gắng đầu tư phát triển làm ăn để thu lợi, rơi vào bại vận thì thủ thường để tránh thất bại. Nhưng nếu sai giờ sinh thì có thể nhầm tưởng vận xấu thành tốt, và tốt thành xấu (do sai giờ sinh). Lỡ gặp vận xấu mà bỏ số lớn tiền bạc ra đầu tư kinh doanh để chuốc lấy thất bại thua lỗ nặng thì thật vô lý.

Trách nhiệm về hậu quả đầu tư sai lầm này không thuộc về dự đoán, nhưng người làm dự đoán có lương tâm không muốn có sự nhầm lẫn trong giờ sinh để khách hàng bị “tiền mất tật mang” như vậy.

Chúng tôi không có điều kiện làm dự đoán từ thiện (miễn phí), nhưng không phải cứ thấy khách hàng đã đóng phí là phải chấm tử vi, đúng hay sai giờ sinh mặc kệ được.

Khách hàng cũng Không nên tự khẳng định là sinh giờ X hay Y gì đó, vì các Tháng chuyển giờ âm lịch có khác nhau nên rất dễ nhầm lẫn giờ sinh.

Những ai sinh ở Miền Nam trước giải phóng ngày 30/4/1975 hoặc ở bất cứ nước nào, khi muốn chấm Tử Vi cần nói rõ nơi sinh để chuyển đổi thành giờ Bắc Kinh (hoặc giờ Hà Nội-giờ Hà Nội chênh với giờ Bắc Kinh 01 tiếng) ) để lấy lá số, hoặc là lấy Tứ trụ thì dự đoán mới chính xác.

Nếu sinh ở nước ngoài thì cần cho biết múi giờ GMT của nước đó, đặc biệt đối với nước MỸ thì có những Tiểu bang lại dùng múi giờ khác nhau và còn theo Mùa nữa, vậy nên cung cấp rõ cho chúng tôi biết để chuyển đổi thành giờ Hà Nội mới lấy lá số đúng được.


GIỜ KHẮC VIỆT NAM QUA NHIỀU BIẾN ĐỔI

Chúng ta biết từ lâu, giờ được quốc tế thừa nhận dựa theo kinh tuyến 0 là múi giờ (thời đại) khởi điểm GMT (Greenwich mean time = giờ quốc tế = giờ lấy kinh tuyến chạy ngang qua thành phố Greenwich nước Anh làm gốc). Quả đất dựa theo kinh tuyến, được chia làm 24 múi giờ.

Ở Việt Nam múi giờ quốc tế GMT+7. Với những chiếc đồng hồ do người phương Tây du nhập vào Việt Nam thế kỷ trước, đều theo cách tính ấy. Khi đồng hồ chỉ 7h00 là ở Việt Nam mặt trời đã mọc lên 1 sào (theo cách nói của người xưa).

Thời thuộc Pháp, Việt Nam vẫn giữ giờ quốc tế ấy (GMT+7). Bây giờ mặt trời vừa mọc tại Việt Nam, khoảng 6h00 giờ sáng. Khi Nhật xâm lược Đông Dương, bắt đầu có sự thay đổi 1 rồi 2 giờ trong ngày:

1. Kể từ khuya ngày 31 tháng 12 năm 1942 rạng ngày 1 tháng 1 năm 1943, giờ Việt Nam (đã dùng từ thời thuộc Pháp = GMT+7) phải kéo đồng hồ lên thêm 1 giờ. Vậy là GMT+8. Mặt trời vừa mọc là đã 7h00 giờ sáng. Giờ NGỌ (đứng bóng) không còn là 11h00 đến 13h00 giờ nữa, mà là từ 12h00 đến 14h00.

2. Kể từ khuya ngày 31 tháng 3 năm 1945 rạng ngày 1 tháng 4 năm 1945 lại tăng thêm 1 giờ nữa. Tức GMT+9. Mặt trời vừa mọc là đã 8 giờ, giờ NGỌ từ 13h00 đến 15h00.

Người ta biết Nhật cưỡng ép tăng 2 lần 2 giờ là để phù hợp với múi giờ của nước Nhật (GMT+9), quân lính Nhật sang Đông Dương khỏi phải điều chỉnh đồng hồ đang dùng.

3. Kể từ ngày 19 tháng 8 năm 1945, giờ Việt Nam trở lại như cũ (GMT+7).

4. Trước năm 1975, khi quân đội của Mỹ đổ bộ sang miền Nam Việt Nam, kể từ khuya ngày 31 tháng 12 năm 1959 rạng ngày 1 tháng 1 năm 1960, giờ của miền Nam Việt Nam bị kéo lên thêm 1 giờ. Tức GMT+8.

Mặt trời vừa lên đã là 7h00 giờ sáng. Giờ NGỌ là 12h00 đến 14h00. Mỹ làm thế là để phù hợp với đồng hồ chỉ giờ (gồm 12 số) tại nước Mỹ, cách Việt Nam 11 múi giờ. Khi được kéo lên thêm 1 giờ thì đồng hồ Việt Nam chỉ 8h00 thì khi đó ở Mỹ là 20h00, kim trên mặt đồng hồ ở Washington chỉ số 8. Tức ở miền Nam Việt Nam 8h00 giờ sáng (đã kéo thêm 1 giờ), là 8h00 giờ tối ở thủ đô Mỹ.

Vậy là ai sinh ở miền Nam Việt Nam kể từ sau 00h00 ngày 1/1/1960 thì phải lấy múi giờ GMT +8, tức là sớm hơn hiện nay 01 tiếng.

Vì vậy khi lấy lá số theo trình lập thì phải lùi lại 01 tiếng và phải tùy theo tháng âm lịch để lấy giờ sinh âmlịch cho chính xác, có nghĩa là khoa Tử Vi dùng ngày sinh của tháng âm lịch bình thường (không tính theotiết khí như khoa Tử Bình lập Tứ trụ), để lập cục an Sao trên lá số. Còn khi lập Tứ trụ thì phải căn cứ xem ngày sinh đó đang ở trong Tiết khí nào. Hai phương pháp xem độc lập nhưng có thể bổ sung các tiêu chí thông tin về vận số cho nhau. Nếu chỉ ứng dụng một phương pháp để xem thì không khai thác hết các tiêu chí thông tin tàng chứa trong Tứ trụ hoặc lá số.

5. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, từ ngày 1 tháng 5 năm 1975, giờ Việt Nam (Đông Dương) trở lại đúng GMT+7. (Ngày 13 tháng 6 năm 1975 có thông báo của chính phủ Việt Nam thống nhất cả nước dùng giờ Đông Dương theo múi giờ GMT+7; nhưng đã thay đổi giờ ngay sau ngày giải phóng).

Chú thích:
* Giải nghĩa giờ "không vong": giờ không vong tính theo Can Ngày. Ví dụ hôm nay ngày GIÁP DẦN, can GIÁP VÀ KỶ bị TRIỆT tại THÂN-DẬU. Vì vậy, 2 GIỜ Thân-Dậu gọi là giờ 'không vong'.

**Giờ Bắc Kinh: Theo kinh nghiệm của những nhà nghiên cứu Mệnh lý Trung Quốc, nhất là theo Thiệu Vĩ Hoa, người đang nổi tiếng không những ở Trung Quốc mà còn có uy tín trên lĩnh vực dự đoán Mệnh số của nhiều Quốc gia. Theo kinh nghiệm của ông Hoa thì đều phải chuyển đổi thành ra giờ Bắc Kinh, mới dự đoán chính xác. Ông Hoa đã thử nghiệm rất nhiều trường hợp, và nghiệm thấy đúng.
Các bác xem số cho người sinh trước năm 1975 cẩn thận về múi giờ !
http://www.tienphong.vn/xa-hoi/8102/Tru ... i-gio.html
Cách tính năm nhuận
Năm 2004 là năm nhuận tính theo dương lịch và cả theo âm lịch. Theo dương lịch nhuận ngày, còn theo âm lịch thì nhuận tháng. Các nhà khoa học cho biết nếu hai số cuối của năm dương lịch chia hết cho 4 thì năm đó là năm nhuận.

vSV
Chuyển động của mặt trăng và mặt trời là cơ sở để tính âm lịch và dương lịch.
Lịch tính thời gian theo mặt trời gọi là dương lịch. Trái đất quay trọn một vòng xung quanh mặt trời mất 365 ngày và 6 giờ. Năm dương lịch có số nguyên là 365 ngày. Như vậy, một năm dương lịchcòn thừa 6 giờ và 4 năm dồn lại thừa 24 giờ, bằng một ngày. Do vậy, cứ 4 năm sẽ có một năm 366 ngày, gọi là năm nhuận. Nhuận ngày dương lịch được tính vào tháng 2. Do đó, tháng 2 năm 2004 có 29 ngày.

Lịch tính thời gian theo mặt trăng gọi là âm lịch. Tháng mặt trăng trung bình có 29,5 ngày. Một năm âm lịch có 354 ngày, ngắn hơn năm dương lịch 11 ngày. Cứ 3 năm lại ngắn hơn 33 ngày (hơn 1 tháng).

Để âm lịch vừa chỉ được tuần trăng, vừa không sai lệch nhiều với thời tiết 4 mùa, cứ 3 năm âm lịchngười ta phải cho thêm một tháng nhuận để năm âm lịch và dương lịch không sai nhau nhiều. Tuy nhiên, như vậy vẫn chưa đủ, năm âm lịch vẫn chậm hơn so với năm dương lịch. Người ta khắc phục tình trạng trên bằng cách cứ 19 năm lại có một lần cách 2 năm thêm một tháng nhuận.

Trong 19 năm dương lịch có 228 tháng dương lịch, tương ứng với 235 tháng âm lịch, thừa 7 tháng so với năm dương lịch, gọi là 7 tháng nhuận. Bảy tháng trước đó được quy ước vào các năm thứ 3, 6, 9 hoặc 8, 11, 14, 17, 19 của chu kỳ 19 năm.

Với năm âm lịch, muốn tính năm nhuận chỉ việc lấy năm dương lịch tương ứng với năm âm lịchchia cho 19, nếu số dư là một trong các số: 0, 3, 6, 9 hoặc 11, 14, 17 thì năm âm lịch đó có tháng nhuận.

Năm Giáp Thân 2004 này nhuận một tháng và tháng nhuận rơi vào tháng 2 (vì 2004 chia 19 còn dư 9). Trở lại năm Giáp Thân cách đây 60 năm (1944, chia cho 9, dư 6), cũng là năm nhuận và tháng nhuận rơi vào tháng 4.

Năm nhuận chỉ là một thủ pháp của các nhà làm lịch nhằm làm cho năm âm lịch và dương lịchkhông sai lệch nhau nhiều, không có hàm ý gì về thời tiết, khí hậu.

Theo Khoa Học và Đời Sống

Thứ Bảy, 28 tháng 2, 2015

Muốn biết ! Theo chu dịch dự đoán !

Đây là tài liệu dùng để học dự đoán ! 
Của phái bốc dịch lục hào



Xem đủ thì vào đây tải về !
Hay tốt hơn nữa thì vào đây !

LỤC THẦN

1-. THẬP CAN PHỐI LỤC THẦN Lục thần chú các việc:
Thanh long chủ về: các việc tốt, vui mừng, nhưng lại khắc thế, khắc dụng thần, cho nên có điều xấu, trong vui sinh ra sự bi thương.
Chu tước chủ về: cãi vã.
Câu trần: chủ về nỗi lo âu điền thổ, lao dịch.
Phi xà: chủ về việc kinh sợ, vu vơ, quái dị.
Bạch hổ: chủ về những việc tổn thương, hiếu phục.
Huyền vũ: là về việc mờ ám, trộm cắp.
Lục thần dùng để tham khảo trong khi đoán. Gặp quẻ cát mà có Thanh long thì càng tốt; quẻ hung mà gặp Phi xà thì càng xấu


2-. LỤC THẦN PHÁT ĐỘNG -Thanh long phát động lâm dụng thần sẽ tiến tài tiến lộc, phúc vô cùng. Nếu lâm cừu thần hoặc
kỵ thần thì đều vô ích, bị tai họa vì tửu sắc.
-Chu tước phát động thì văn ấn vượng, sát thần tướng thì không lập được công danh, hay cãi vã, động xuất sinh thân lợi việc công.
-Câu trần phát động lo về điền thổ, xung tuế thì gặp kỵ, sinh dụng thì cát cho việc tình duyên, nếu yên tĩnh thì không mê muội.
-Phi xà bị quan quỷ khắc thì lo lắng liên miên, toàn những việc hổ kin quái dị không rõ ràng. Phi
xà trì thế rơi vào triền không, hưu thì hòa thuận, nếu gặp nhập xung thì không tránh khỏi điều xấu.
-Hào bạch hổ động chủ về hình phạt, kiện tụng, bệnh tật; trì thế động sẽ có hại trong gia đình;
gặp hóa sinh thân thì mất đoàn kết.
-Huyền vũ động thì nhiều ám muội, nếu lâm quan quỷ cần đề phong bị cướp; động sinh thế thì tốt; động gặp cừu thần, kỵ thần thì bị trộm cắp. 

Long nào , phát cho ai !




Trích trong Dã Đàm Tả-Ao ( xem đầy đủ ở đây )

Phong thủy kinh điển sử dụng những hình ảnh đầy màu sắc để mô tả một thế đất đẹp, đó là khu đất hội tụ Tứ tượng: Thanh Long, Bạch Hổ, Huyền Vũ và Chu Tước.

Tứ Tượng hay tứ thánh thú là một khái niệm hình tượng trong triết học phương Đông, tượng trưng cho các con thú thiêng trong các chòm sao Trung Hoa cổ đại: Huyền Vũ của phương Bắc, Thanh Long của phương Đông, Bạch Hổ của phương Tây và Chu Tước của phương Nam.

 
Hình thế núi cao ba bề gợi cho ta nhớ tới một chiếc “ghế bành”, biểu tượng của cuộc sống tiện nghi.
Thế đất Tứ Tượng bao gồm:
 - Huyền Vũ (rùa đen) là trái núi phía sau ngôi nhà, lý tưởng nhất là nằm ở phương Bắc.
- Thanh Long (rồng xanh) là ngọn đồi phía tay trái ngôi nhà, tốt nhất là nằm ở phương Đông.
- Bạch Hổ (hổ trắng) là ngọn đồi phía tay phải ngôi nhà, nó phải thấp hơn đồi Thanh Long bên trái và núi Huyền Vũ sau nhà.
- Chu Tước (chim sẻ đỏ) là gò đồi nhỏ trước mặt nhà, lý tưởng nhất là ở phương Nam.


 
Nếu đứng từ trong nhà nhìn ra, Thanh Long ở bên trái, Bạch Hổ bên phải, Huyền Vũ ở sau và Chu Tước ở trước.
Phong thủy hình thế dựa chủ yếu vào thế đất xung quanh ngôi nhà. Thế giới hiện đại đã khác xa thế giới của người xưa, cảnh quan thay đổi quá nhiều. Các thành phố đông đúc với những khu chung cư san sát mọc lên khiến người ta phải thay đổi cách luận giải và áp dụng lý thuyết phong thủy. Những tòa nhà cao tầng được xem như núi, đường cao tốc được nhìn nhận như sông. Hình thế của các căn hộ chung cư được xác định dựa theo vị trí của toàn bộ tòa nhà.
Trong phong thủy hiện đại, thật khó tìm được thế Tứ Tượng lý tưởng. Tuy nhiên, các biện pháp sau đây có thể giúp bạn cải thiện phong thủy hình thế nơi bạn ở.

- Huyền Vũ: Nền đất phía sau nhà phải cao hơn nền phía trước nhà. Xây một ụ đất giống như lưng rùa để tạo Huyền Vũ. Lý tưởng nhất là Huyền Vũ nằm ở phương Bắc của ngôi nhà.
Rùa đen
Nếu không có cách nào tạo được mô đất nói trên, hãy treo một bức tranh rùa ở phần sau của ngôi nhà, hoặc tốt hơn nữa thì nuôi rùa ở vị trí này. Nuôi một con là đủ vì con số gắn với rùa là số 1.
Rùa được cho là có thể mang lại vận may quý nhân phù trợ, sự trường thọ cũng như sự bảo vệ lâu bền. Nếu không có điều kiện nuôi rùa thì đặt một tượng rùa bằng đá hoặc bằng đồng cũng rất tốt. Kích hoạt Huyền Vũ là một trong những biện pháp quan trọng trong phong thủy.
- Thanh Long: Rồng là biểu tượng mang lại may mắn. Trong phong thủy hình thế, việc chọn được thế đất nhấp nhô, nơi rồng trú ẩn, được coi là hết sức tốt lành. Nhìn từ trong ra ngoài, đồi Thanh Long nằm bên trái ngôi nhà. Nên bố trí để thế đất bên trái cao hơn bên phải.
    Rồng 4 móng   

 
Rồng 5 móng
Rồng trú ngụ ở phương Đông. Nếu bạn không có điều kiện thay đổi môi trường bên ngoài thì có thể treo ảnh rồng trên bức tường phía Đông ngôi nhà hoặc đặt tượng rồng ở phía Đông phòng khách.
Nên chọn rồng bốn móng, tránh rồng năm móng (chỉ dùng cho vua chúa), vì mức năng lượng quá lớn do rồng năm móng tạo ra có thể không phù hợp với bạn.
- Bạch Hổ: Mãnh thú này cũng quan trọng không kém Rồng. Thanh long tạo ra cuộc sống tốt đẹp còn Bạch hổ lại giúp duy trì cuộc sống này. Đồi Bạch Hổ nằm bên phải ngôi nhà và nhất thiết phải thấp hơn đồi Thanh Long.
Người ta tin rằng nếu thế đất bên phải cao hơn, Bạch Hổ mạnh hơn sẽ lấn át Thanh Long. Điều này cực kỳ nguy hiểm vì Hổ dữ có thể gây hại cho những người sống trong nhà.

Bạch Hổ
- Chu Tước: Chim đỏ là biểu tượng của phương nam hay khoảng đất trống phía mặt tiền ngôi nhà. Khu vực này cần bằng phẳng, hoặc ít nhất là thấp hơn đất đằng sau, bên trái và bên phải nhà. Chu Tước được cho là mang lại cơ hội tiền tài vật chất.

Treo tranh hoặc đặt tượng gà ở phía Nam phòng khách để kích hoạt Chu Tước.
Vật lớn chặn trước ngôi nhà được xem như trở ngại với những công việc bạn đang thực hiện. Thành công sẽ tới một cách khó khăn. Tồi hơn nữa bạn có thể mất mát nặng nề.

Theo Ngôi sao
Nguồn ở đây !

Thứ Sáu, 27 tháng 2, 2015

Mai hoa dịch - Tượng vạn vật

Mai hoa dịch ( Kỳ thư trung hoa )
Bạn muốn xem đầy đủ thì tải ở đây hoặc ở đây
























Kiền vi Thiên. Vi viên. Vi quân. Vi phụ. Vi ngọc. Vi kim. Vi hàn. Vi băng. Vi đại xích. Vi lương mã. Vi lão mã. Vi tích mã. Vi bác mã. Vi mộc quả.

Dịch. Tiết 1.
Kiền trời, trònlại là vua,
Là cha, là ngọc, cũng ưa là vàng.
Là rét, rồi lại là băng,
Hoặc rằng đỏ thẫm, hoăc rằng ngựa hay.
Ngựa già, rồi lại ngựa gầy,
Ngựa vằn cũng thế, trái cây cũng là.

Kiền là trời. Trời chuyển vận nên tròn.
Kiền là vua, là cha vì Kiền tôn quí, vì Kiền sinh vạn vật. Kiền là vàng, là ngọc, vì Kiền vừa cứng, lại vừa trong sáng. Kiền là lạnh, là băng, vì quẻ Kiền ở Tây Bắc (trong Hậu Thiên Bát quái), mà Tây Bắc là Hàn băng chi địa.
Kiền là đỏ đậm, mà đỏ đậm là màu Dương thịnh.
Kiền là ngựa hay, vì ngựa hay chạy khỏe.
Kiền là ngựa già, vì ngựa già chạy khỏe, và lâu.
Kiền là ngựa ốm, vì loại ngựa ốm lại chạy mau, và nhanh.
Kiền là ngựa vằn, vì ngựa vằn răng sắc như cưa, ăn được cả hổ báo, nên khoẻ lắm vậy.
Kiền là quả, vì quả bám vào cây như sao bám vào trời, hơn nữa quả cũng tượng trưng cho sự trường cửu.

Tiết 2.
 Khôn vi địa. Vi mẫu. Vi bô. Vi phủ. Vi lận sắc. Vi quân. Vi tử mẫu ngưu. Vi đại dư. Vi văn. Vi chúng. Vi bính. Kỳ ư địa dã vi hắc.

Dịch. Tiết 2.
Khôn là đất, mẹ, vải thô,
Là nồi, là chõ, sẻn so, đề huề.
Trâu con, trâu mẹ hay xe,
Khi thì văn vẻ, khi thì đám đông.
Thân cây, ám chỉ cũng thông,
Còn như chỉ đất, thì rằng đất đen.
Khôn là đất. Đất dưỡng nuôi muôn loài, nên là mẹ.
Khôn là vải, vì mặt đất đầy sinh vật và thảo mộc, y như áo bên ngoài.
Khôn là nồi, là chõ, vì muôn loài đều hóa sinh, thành thục bên trong.
Khôn là bằng phẳng, vì đất chẳng hề có thiên vị.
Khôn là mẹ con con trâu, ý nói đất cũng có sức sinh sản nhiều.
Khôn là xe lớn, vì mang tải vạn vật.
Khôn là văn vẻ, sặc sỡ, vì trên mặt đất vạn vật có muôn mầu sắc.
Khôn là đám đông, vì mang tải vạn vật.
Khôn là thân cây, vì gốc sinh vạn vật.
Khôn là mầu sắc đen, vì mầu đen là mầu của cực Âm.  
Tiết 3.
Chấn vi lôi. Vi long. Vi huyền hoàng. Vi phụ. Vi đại đồ. Vi trưởng tử. Vi quyết táo. Vi thương lang trúc. Vi hoàn vĩ. Kỳ ư mã dã vi thiện minh. Vi chuất túc. Vi tác túc. Vi đích tảng. Kỳ ư giá dã vi phản sinh. Kỳ cứu vi kiện. Vi phồn tiên.

Dịch.
Tiết 3. Chấn là rồng, sấm, vàng đen,
Là vươn, là nở, cũng nên là đàng.
Trai thời đáng vị trưởng nam,
Hoặc là quả quyết, hung hăng, cương cường.
Tre non, mơn mởn, mỡ màng,
Hoặc là mây mái, rõ ràng xanh tươi.
Ngựa thời tiếng hí như lôi,
Hoặc chân sau trắng, hoặc thời phi hay.
Hoặc khoảng trắng trán, trắng mày,
Còn nơi lúa má, giống hay đâm mầm.
Chung qui mạnh mẽ, hào hùng,
 Hoặc rằng rậm rạp, hoặc rằng tốt tươi.

Chấn là sấm, là rồng, vì sấm thì động, rồng thì vẫy vùng.
Chấn là huyền hoàng, vì 2 mầu này trộn với nhau sinh ra mầu xanh lá cây; lúc xuân về. Chấn là mùa xuân vậy.
Chấn là vươn lên, nở ra. Vì mùa xuân, vạn vật đâm chồi nảy lộc, nảy mầm, trổ búp để vươn lên.
Chấn là đường lớn, vì mùa Xuân là con đường lớn dẫn muôn vật vào cõi sống.
Chấn là tre măng, vì tre măng đến mùa xuân cũng phát sinh mơn mởn, đẹp tươi. Mây mái cũng vậy.
Chấn là con ngựa hí giỏi, vì ngựa hí cũng y như sấm động.
Chấn như con ngựa có chân sau trắng, dẫu chạy xa, ta vẫn còn thấy rõ vết trắng động. Chấn chẳng phải là động sao ?
Chấn là ngựa phi hay, ý nói Chấn động và mạnh vậy.
Chấn là ngựa có đốm trắng ở đầu, ý nói Chấn là động và dễ thấy vậy.
Chấn chỉ những giống gieo xuống đất, rồi lại mọc ngược lên, nó đội cả vỏ, y như Chấn 1 Dương mà đội 2 Âm.
Chấn chỉ những giống lúa má mạnh mẽ, chóng mọc, mau tốt, vì mùa Xuân thảo mộc đều mọc lên mạnh mẽ, tốt tươi. 
Tiết 4.
Tốn vi mộc. Vi phong. Vi trưởng nữ. Vi thằng trực. Vi công. Vi bạch. Vi trưởng. Vi cao. Vi tiến thoái. Vi bất quả. Vi xú. Kỳ ư nhân dã vi quả phát. Vi quảng tảng. Vi đa bạch nhãn. Vi cận lợi thị tam bội. Kỳ cứu vi tao quái.

Dịch.
Tiết 4. Tốn là cây, gió, gái choai,
Là giây giăng thẳng, là người công nhân,
Trắng, dài, tiến, thoái không chừng,
Là không quyết đoán, cao ngông, là mùi.
Tóc thưa, trán rộng, ấy người,
Mắt nhiều lòng trắng,tham lời quá đa,
Những mong lãi một gấp ba,
Kinh doanh, chợ búa, vào ra tối ngày.
Chung qui là mạnh bên ngoài,
Tốn là rạo rực, chơi vơi, bồn chồn.

Tốn là cây, vì Tốn thuộc mộc, trong Hậu Thiên Bát quái.
Tốn là gió, vì hai Hào Dương động ở trên, như gió lay cây.
Tốn là gái lớn, vì Kiền Sơ được Khôn khí sinh Tốn.
Tốn là giây thẳng, là thợ, vì Tốn là gió truyền hiệu lệnh đi xa để trị dân.
Tốn là trắng, vì gió thổi sạch bụi cát, làm vật trắng sạch lại.
Tốn là dài, vì gió thổi xa.
Tốn là cao, vì gió cũng có thể thổi cao, vì cây mọc lên cao.
Tốn là tiến lui, vì gió có thể đổi chiều.
Tốn là không quả quyết, vì gió có thể xoay trở, đổi chiều.
Tốn là mùi, vì gió mang các mùi đi xa.
Tốn chỉ người ít tóc, vì gió thổi rung cây, làm rụng hoa lá, nên cây xơ xác, cây ít lá làm liên tưởng đến đầu ít tóc.
Tốn chỉ người trán rộng, vì trán rộng rất ít tóc.
Tốn chỉ người nhiều lòng trắng, vì người nhiều lòng trắng thường hung hăng, hiếu động.
Tốn chỉ người ham lợi, mong lợi gấp hai ba nơi chợ búa, vì những người nóng nẩy thường ham lợi.
Tốn chỉ những người hăng hái, mạnh mẽ bên ngoài, vì Tốn có 2 Dương ở ngoài (trên), 1 Âm ở trong (dưới). 
Tiết 5.
 Khảm vi thủy. Vi cấu độc. Vi ẩn phục. Vi kiều nhu. Vi cung luân. Kỳ ư nhân dã vi gia ưu. Vi tâm bệnh. Vi nhĩ thống. Vi huyết quái. Vi xích. Kỳ ư mã dã vi mỹ tích. Vi cức tâm. Vi hạ thủ. Vi bạc đề. Vi duệ. Kỳ ư dư dã vi đa sảnh. Vi thông. Vi nguyệt. Vi đạo. Kỳ ư mộc dã vi kiên đa tâm.

Dịch.
Khảm là nước, lạch, ngòi con,
Cũng còn ẩn phục, cũng còn cong, ngay.
Là cung, là bánh xe quay,
Lòng này buồn bực, bệnh này bệnh tim.
Đau tailà máu cũng nên,
Là màu máu đỏ, cũng êm, cũng là.
Ngựa thời lưng đẹp, chạy vo,
Là con đầu thấp, móng vừa mỏng thôi.
Chạy thời bốn vó ưa mài,
Mài chân trên đất, ruổi nơi dặm trường.
Xe thời khuyết điểm, đa mang,
Cũng là thông suốt, là gương nguyệt cầu.
Cũng là trộm đạo, khác đâu.
Là cây chắc thớ, hoặc đâu lõi nhiều.

Khảm là nước, vì quẻ Khảm ở phương Bắc. Phương Bắc lạnh, nước có thể đóng băng, nên chi lạnh.
Khảm là ngòi, lạch, ý nói nước có thể chảy đi khắp nơi.
Khảm là ẩn phục, vì nước có thể chảy ngầm trong đất,
Khảm là cong, là thẳng, ví nước muốn lượn khúc, muốn chảy thẳng cũng được, tùy địa thế.
Khảm là cung, vì cung bắn tên đi, y như nước bắn tung tóe ra.
Khảm là bánh xe, vì nước cũng chuyển vần như bánh xe.
Khảm là u buồn, vì Khảm có 1 Hào Dương kẹt giữa 2 Hào Âm. Khảm là tâm bệnh cũng vì lẽ trên.
Khảm có nghĩa là mệt, ở phương Bắc chủ nghe. Nghe nhiều phát mệt, có thể sinh đau tai.
Khảm là máu, vì máu đối với người, như nước đối với đất.
Khảm là đỏ, vì Khảm là máu, mà máu có màu đỏ.
Khảm là ngựa có lưng đẹp, vì Khảm có Hào Dương ở giữa 2 Hào Âm, làm liên tưởng đến lưng đẹp ở giữa đầu và đuôi ngựa.
Khảm là ngựa nhanh, vì Khảm có Hào Dương ở giữa nên mạnh và động.
Khảm là ngựa có đầu thấp, vì nước thường chảy xuôi.
Khảm là ngựa có móng mỏng, là ngựa chạy hay mài móng xuống đất, vì nước cũng cắt đất mà chảy.
Khảm là xe dễ sinh tai nạn, ý nói Khảm trong ngoài có 2 Hào Âm, nên yếu không chở được nặng. Chở nặng dễ sinh tai nạn.
Khảm là thông suốt, phải chăng vì Hào Dương ở giữa băng suốt qua 2 Hào Âm ?
Khảm là mặt trăng, vì trăng được coi là tinh hoa của nước.
Khảm là kẻ trộm, vì nước chảy kín đáo, lặng lẽ y như kẻ trộm .
Khảm là cây chắc, có lõi nhiều, vì Khảm có Hào Dương cương ở giữa 2 Hào Âm. 
Tiết 6.
Ly vi Hỏa. Vi nhật. Vi điện. Vi trung nữ. Vi giáp trụ. Vi qua bịnh. Kỳ ư nhân dã vi đại phúc. Vi Kiền quái. Vi miết. Vi giải. Vi lõa. Vi bạng. Vi qui. Kỳ ư mộc dã vi khoa thượng cảo.

Dịch. Tiết 6.
Ly là lửa nóng cháy thiêu,
Mặt trời, hoặc chớp, tùy theo cảnh hoàn.
Gọi là trung nữ cũng ngoan,
Hoặc làm giáp trụ, hoặc làm đồ binh.
Người thời phệ bung đã đành,
Ly là khô ráo, nắng hanh, cũng nền.
Ba ba, cua, hoặc ốc sên,
Trai, rùa, cây rỗng, mà trên khô khòng.

Ly là lửa, vì Ly ở phương Nam, thuộc Hỏa.
Ly là mặt trời, vì mặt trời là tinh hoa của lửa. Ly là chớp, vì chớp sáng như lửa.
Ly là con gái giữa, vì Kiền nhị. được Khôn khí, nên sinh Ly là con gái giữa.
Ly là giáp trụ, binh khí. Vì giáp trụ và binh khí đều cứng bên ngoài, để có thể tự vệ, như Ly có 2 Hào Dương bên ngoài.
Ly là người có bụng lớn, vì bụng thuộc Âm, mà Ly có Hào Âm ở trong.
Ly có 2 Hào Dương ôm 1 Hào Âm bên trong, nên chỉ các loài có vỏ, có mai cứng như trai, rùa, ba ba, cua, ốc sên vv...
Ly rỗng giữa, nên sánh với cây rỗng giữa. Cây đã rỗng giữa, ắt khô héo phía trên. 
Tiết 7.
Cấn vi sơn. Vi kinh lộ. Vi tiểu thạch. Vi môn khuyết. Vi quả lõa. Vi hôn tự. Vi chỉ. Vi cẩu. Vi thử. Vi kiềm huê chi thuộc. Kỳ ư mộc dã vi kiên đa tiết.

Dịch. Tiết 7.
Cấn là non núi chập chùng,
Đường mòn, đá nhỏ hoặc khung cửa nhà.
Hoặc là quả, hạt, quản gia,
Là người coi phố, hoặc là ngón tay.
Tượng trưng chó, chuột cũng hay,
Chim thời thuộc loại những loài mỏ đen.
Cây thời chắc gỗ, lắm khoen,
Lắm khoen, lắm đốt, chắc bền, dẻo giai.

Cấn là núi, vì Âm ở dưới, chỉ sự dừng đứng; Dương ở trên chỉ sự cao.
Cấn là đường nhỏ, vì Cấn là núi, nhưng vẫn có đường nhỏ băng qua.
Cấn là đá nhỏ, vì Cấn là núi, núi có đá, lại Cấn có 1 Dương, nên là trai nhỏ, vì thế gợi hình ảnh đá nhỏ.
Cấn là cửa, vì quẻ Cấn như hình cửa.
Cấn là quả hạt, vì quả hạt sinh ở núi, hay vì quả hạt là giao điểm giữa sự sống chết của cây, như quẻ Cấn đứng ở đầu mùa Xuân làm giao điểm cho sự sống chết của muôn vật.
Cấn là kẻ giữ nhà, giữ đường, vì Cấn là Chỉ (là dừng lại), còn kẻ giữ nhà, giữ đường cũng bắt khách phải dừng lại, không cho vào nhà hoặc qua đường.
Cấn là chó, vì chó cũng giữ nhà như vậy.
Cấn là chuột, là chim có mỏ cứng, vì chuột có răng sắc, chim có mỏ cứng, như Cấn có 1 Hào Dương cứng ở phía trước.
Cấn là cây chắc, và lắm đốt, vì cây trên núi thường chắc và lắm đốt.
Tiết 8.
Đoài vi trạch. Vi thiếu nữ. Vi vu. Vi khẩu thiệt. Vi hủy triết. Vi phụ khuyết. Kỳ ư địa dã vi cương lỗ. Vi thiếp. Vi dương.

Dịch.
Tiết 8. Đoài là đầm trạch đành rồi,
Hoặc là thiếu nữ, hoặc thời đồng vu.
Hoặc là miệng lưỡi cũng ưa,
Hoặc là bỏ quách, hoặc là vứt quăng.
Hoặc là bứt, hái về dùng,
Đất thời cứng mặn, chứ không đất thường,
Sắn bìm lẽ mọn, bẽ bàng,
Là Dê (vì lẽ Đoài mang đôi sừng).

Đoài là hồ, vì Đoài có 1 Âm ở trên 2 Dương, như nước ở trên một vùng đất cứng.
Đoài là thiếu nữ, vì Kiền tam cầu con được Khôn khí sinh Đoài, vì thế Đoài là thiếu nữ.
Đoài là đồng cốt, vì đồng cốt dùng miệng lưỡi mà dạy người.
Đoài là miệng lưỡi, vì Đoài hở phía trên như hai làn môi.
Đoài là hủy hoại, cắt, chặt, vì Đoài là mùa Thu, mà mùa Thu thì lúa chín sẽ rơi rụng, cần phải cắt, chặt (gặt hái) đem về.
Đoài là bứt, hái, vì đến mùa Thu, quả hạt cũng chín, phải bứt hái về.
Đoài là rắn, là mặn, vì khi hồ khô cạn, sẽ để trơ lòng đất rắn và mặn. Sở dĩ mặn, vì nước hồ thường im lắng, nên lắng muối xuống đáy.
Đoài là thiếp, vì Đoài là con gái nhỏ, nên gợi ý tưởng vợ nhỏ, vợ lẽ.
Đoài là dê, vì lẽ dễ nuôi và có sừng như quẻ Đoài có 2 vạch đứt ở phía trên.