Thứ Bảy, 7 tháng 2, 2015

PHƯƠNG HƯỚNG ĐỐI VỚI CON NGƯỜI

PHƯƠNG HƯỚNG  ĐỐI VỚI CON NGƯỜI
Hà Đồ và Lạc Thư quan trọng ở phương hướng.
Vị trí các quẻ dù có thay đổi, nhưng phương chính
Đông Tây vẫn như nhau, nghĩa là Âm Dương không
thay đổi. Nhìn đồ số 23 ta thấy: Ở Tiên thiên quẻ LY
thuộc Dương, qua Hậu thiên quẻ Chấn thay vào cũng
thuộc Dương. Ở Tiên thiên quẻ KIỀN thuộc Dương,
qua Hậu thiên quẻ Ly thay vào cũng thuộc Dương. Ở
Tiên thiên quẻ Khảm thuộc Âm, qua Hậu thiên quẻ
Đoài thay vào cũng thuộc Âm. Dòng từ khí của quả
đất thuộc về khí tiên thiên vô hình nên thân thể của
con người đối với nó rất quan hệ. Lằn ngang Đông
Tây, tức là vòng Xích đạo chia quả đất làm hai phần
đồng nhau có hai khối âm dương khác nhau. Lằng
ngang (vĩ) thuộc về không gian, mà phương hướng
thuộc về không gian cho nên phải lấy làn Xích đạo
làm trục chánh. Như vậy ta thấy phía Đông thuộc
Dương, phía Tây thuộc Âm, phía Băc thuộc Âm, phía
Nam thuộc Dương. Quả đất xoay chung quanh mặt
trời phân chia ngày đêm theo trục Bắc Nam, bên
Đông thuộc về ngày, bên trái thuộc về đêm, tức là một
bên thuộc về Âm một bên thuộc về Dương.
     Con người sống trên hoàn vũ, đầu đội trời chơn
đạp đất, hô tiếp thiên căn, hấp tiếp địa mạch, luôn
luôn thọ khí Âm Dương mà tồn tại, không nên không
thuận theo Âm Dương mà sống cho đừng lỗi nhịp.
Theo nguyên lý Âm Dương, thì Âm cùng Âm
không thu hút nhau, Dương cùng Dương cũng không
thu hút nhau, chỉ có Âm Dương, Dương Âm mới hút
nhau mà thôi. Quyển Physique Magnêtique miêu tả
định luật này rất rõ: “[Pháp văn]”. (Lằn xích đạo chia
quả đất thành hai khối bằng nhau: khối Bắc thuộc Âm
điện, khối Nam thuộc Dương điện. Thân thể con
người cũng phân làm lưỡng cực: phía lưng thuộc Âm,
phía mặt thuộc Dương; thân thể tay chân tay bên mặt
thuộc Dương, bên trái thuộc Âm. Âm gặp Âm, Dương
gặp Dương không bao giờ thu hút nhau, lại xua đẩy
ra. Chỉ Âm gặp Dương, Dương gặp Âm mới thu hút
nhau mà thôi. Âm Dương có gặp nhau thì mới gây
được cảm giác dễ chịu, êm ái. Trái lại, Âm gặp Âm,
Dương gặp Dương thì có sự kích động và khó chịu.
Bởi vậy, khi nằm ngủ, cần nằm nghiêng bên mặt hay
nằm sấp, đừng nằm nghiên bên trái hoặc nằm ngửa).
     Là tại sao? Phía tay mặt, thuộc Dương, còn quả
đất thuộc Âm: Dương gặp Âm dễ gây được cảm giác
êm dịu. Trái lại, phía tay trái thuộc Âm, quả đất cũng
thuộc Âm: Âm gặp Âm gây cảm giác khó chịu. Nằm
ngửa, thì lưng thuộc Âm lại gặp luồng điện Âm dưới
đất xông lên, nên có cảm giác khó chịu. Sách Dịch đã
nói rõ: “Âm Dương tương ngộ tắc ứng. Âm ngộ Âm,
Dương ngộ Dương bất ứng”.
     Xem đồ sau đây, chỉ rõ sự phân biệt chia Âm
Dương trong thân thể con người. Quả đất đóng vai trò
một miếng đá nam châm to lớn (un gros aimant), mà
thân thể con người cũng là một miếng đá nam nhâm
nhỏ. (Đồ số 26)


Tóm lại, muốn được khỏe mạnh, người ta
khuyên nên để ý đến phương hướng trong những cử
chỉ đi đứng nằm ngồi, đại khái như:
    Khi ngồi nên day mặt về hướng Tây, vì Tây
thuộc Âm. Như đã thấy trước đây, thân trước con
người thuộc Dương, gặp hướng Âm, thấy dễ chịu, nhẹ
nhàng. Lại nữa phía sau lưng thuộc Âm, hương Đông
thuộc Dương, đó là hợp hướng. Lại còn hợp với cả
hướng Bắc và hướng Nam nữa; Bắc thuộc Âm nên
hợp với phía tay mặt thuộc Dương, còn Nam thuộc
Dương nên hợp với phía tay trái của nhân thân. Ngồi
hay đứng mà mặt day về hướng Tây là tư thế hay
nhất. Bất đắc dĩ thì ngồi day hướng Bắc, như với tư
thế này mình được hưởng phân nửa phần lợi của tư
thế day mặt qua hướng Tây, như đã thấy trước đây.
     Khi nằm, tư thế hay nhất là đầu hướng về hướng
Bắc, chơn về hướng Nam. Là vì đầu thuộc Dương gặp
Bắc là Dương gặp Âm. Chơn thuộc Âm, mà hướng về
Nam là Âm gặp Dương. Thân phía trái thuộc Âm mà
hướng về phía Đông thuộc Dương là Âm gặp Dương;
còn phía tay mặt thuộc Dương mà hướng về Tây
thuộc Âm, là Dương gặp Âm. Nhưng có điều chưa
được hoàn toàn là khi nằm ngửa, lưng thuộc Âm lại
gặp đất thuộc Âm, thì lợi chỉ có 4/5. Cho nên tư thế
hoàn toàn nhất là nằm nghiêng bên mặt, mặt hương
Tây, đầu hướng Bắc là tuyệt nhất. Có lẽ vì những lý
do trên mà nhà Phật nằm, đầu về hướng Bắc, mặt day
hướng Tây, còn nhà Đạo, trong phép “ngoại thiền”
(thiền định nằm) cũng khuyên nằm nghiêng bên tay
mặt, đầu hướng về hướng Bắc.
                             *

    
 Như chúng ta đã thấy, đầu nằm hướng về phía
Tây và hướng Bắc lợi hơn đầu nằm về hướng Đông,
nhất là hướng Nam. Đầu hướng về hướng Nam, số
hồng huyết cầu thua số hồng huyết cầu đầu nằm
hướng về Tây có đến hàng triệu.


Trích từ Dịch học tinh hoa ( Cụ Nguyễn Duy Cần )

Dịch kinh phương đông và huyền bí học phương tây gặp nhau !

         
   

 KYBALION
                    *
Nơi tựa quyển sách này, có lời giới thiệu như sau
     “Pháp văn”
     (Sách Kybalion, quả quyết là một quyển sách
vượt loại thường, nó là ấn chứng của sự khôn ngoan
và huyền diệu. Quyển sách nhỏ này thật thâm sâu
dưới một hình thức thật giản dị: nó cực kỳ sâu sắc…
Những định luật tối cao chỉ huy mọi hiện tướng trên
đời, và cả bản thân chúng ta nữa, đều đã được trình
bày một cách hết sức đơn giản).
     Quyển KYBALION, mà chúng tôi thường đề cập
đến như là một quyển “kỳ thư”, một quyển kinh Dịch
của Ai Cập và Hy Lạp cổ truyền: nó vừa là một quyển
minh triết (Sagesse), vừa là một quyển sách huyền
nhiệm (mystère) dùng làm căn bản cho tất cả mọi thứ
học huyền bí cổ đại ở miền Trung Đông, Ai Cập và
Hy Lạp. Những nguyên lý căn bản của nó đều là
những nguyên lý mà kinh Dịch của Trung Hoa đã nêu
ra. Điều đặc biệt nhứt là những nhà bình giảng nó, đã
dùng khoa học cận đại để giải thích, nên những gì thật
huyền bí đã trở thành rất dễ hiểu cho những ai có trình
độ khá cao về khoa học Tây phương cận đại và hiện
đại.
     Quyển sách mà chúng tôi được hân hạnh nghiên
cứu đã được mua từ năm 1927, và cho đến nay dường
như không thấy được tái bản. Dưới đây một vài đoạn

văn tiêu biểu trích trong quyển rất quý báu ấy để các
bạn thưởng thức và so sánh:
     “Pháp văn”
     (Những nguyên lý chánh của Chân lý tối thượng
chỉ có bảy: kẻ nào hiểu biết được nó là đã nắm được
cái chìa khóa màu nhiệm mở được tất cả những cửa
Đền Chân lý trước khi đá động đến nó).
     “Pháp văn”
     (Bảy nguyên lý trên đây đều là những nguyên lý
căn bản đã được trình bày trong Kinh Dịch.
    1. Nguyên lý thứ nhứt: Chính là chỗ mà Dịch gọi
là Thái Cực, hoặc Thái Nhất (Đạo). Nó là một bầu
điện khí linh thiêng, nguồn sống của Vũ trụ, Vạn vật,
Đạo, người Tây phương dịch nó là Mental Cosmique,
đó là chữ THẦN của kinh Dịch. Esprit, (viết với chữ
E hoa) là để phân biệt với chữ thần (esprit) đối với vật
(matìere). Cho nên mới nói “Le Tout est Esprit”,
“l’Univers est Esprit”.
     Vũ trụ do Khí âm dương mà ra, nhưng Khí ấy
gọi là THẦN, cho nên tác dụng của cả âm lẫn dương
mới là Thần: “Tinh khí vị chi THẦN” 133. Âm là tinh,
Dương là khí, cả hai hợp lại mới thành vật. Cái sự
phối hợp ấy gọi chung là Thần (Esprit): “Âm Dương
bất trắc chi vị THẦN”. “Bất trắc” đây có nghĩa là chế
hóa lẫn nhau, luôn luôn có mặt (lưỡng tại) không bao
giờ rời nhau, qua lại với nhau và trao đổi với nhau
“không lường trước được”. Tất cả mọi sự sinh, khắc,
chế, hóa… của Âm Dương Ngũ Hành. Đó là Thần
hóa.
     Một nơi khác đã định nghĩa chữ Đạo như vầy:
“Đạo sinh Nhất, Nhất vi Thái cực… Nhất, hà dã?
Thiên địa chi tâm dã, Tạo hóa chi nguyên dã”. (Tống
Nguyên Học án…, tr 122). Đạo sinh Một, Một tức là
Thái cực… Một là gì? Là cái TÂM của Trời (Dương)
Đất (Âm). (Xem quyển Tinh hoa Đạo học Đông
phương).
     Câu “Le Tout est Esprit” có nghĩa là “Tất cả là
Đạo”, là Thái cực: “Vật vật các hữu Thái cực”.
    2. Nguyên lý thứ hai: Câu “Ce est an haut est
comme ce qui est en Bas…”, tức là câu: “Thiên Nhơn
tương ứng”, bất cứ sự việc gì đều cùng một lý như
nhau. Biết rõ sự cấu tạo của một hột nguyên tử là biết
rõ sự cấu tạo của một dải Ngân hà. Sách Kybalion
bình về điểm này có viết: “Pháp văn”.
    3. Nguyên lý thứ ba: Tất cả không có cái gì đứng
yên một chỗ: không có cái gì không máy động; không
có cái gì không rung động (Rien ne repose; tout
remue; tout vibre). Chính đây là cái nghĩa chánh của
Dịch: Dịch là biến.
    4. Nguyên lý thứ tư: Tất cả đều có hai mặt; những
đối cực đều cùng một bản tánh nhưng khác độ; những
cái cực đoan lại gặp nhau; tất cả mọi chân lý đều là
những chân lý một mặt (một nữa chân lý); tất cả mọi
nghịch thuyết đều có thể dung hòa. Đó là cái chân lý:
“Một mà Hai, Hai mà Một” của Dịch lý: “Thái cực
nhi lưỡng nghi, lưỡng nghi nhi Thái cực”. Đó là cái lý
“bất nhị nhất nguyên” của Dịch.
    5. Nguyên lý thứ năm: Cái gì cũng trôi qua, và trôi
đi mãi mãi; sự gì vật gì đều có cái thời gian của nó; tất
cả đều tiến rồi thối; sự qua qua lại lại của cái đòng
đưa đều hiện lên trong mỗi sự vật; sự lắc qua bên mặt
cũng đồng với sự lắc qua bên trái; tiết điệu luôn luôn
không không thay đổi. Dịch bảo: “Biến hóa giả, tiến
thoát chi tượng dã. Vãng lai bất cùng vị chi thông”.
    6. Nguyên lý thứ sáu: Nhân nào quả nấy; tất cả
việc gì đều xảy ra theo đúng luật định cả; cái mà ta
gọi là “May mắn” chỉ là một tiếng nói vô nghĩa vì
không hiểu Luật; có rất nhiều nguyên nhân và không
có một sự vật nào vượt thoát được Luật tự nhiên của
Trời Đất cả. Tức là chỗ Dịch bảo: “cùng Lý tận Tánh”
để mà “tri Cơ thám nguyên”.
    7. Nguyên lý thứ bảy: Bất cứ sự vật gì đều có một
âm một dương; bất cứ trên bình diện nào đều có âm
dương cả. Bình luận về nguyên lý này, sách Kybalion
đưa ra nhiều ý kiến rất hay và lưu ý chúng ta đừng
hiểu lầm hai tiếng âm dương giống với sự phân giống
về vấn đề sinh lý, giữa giống cái và giống đực. Đoạn
văn sau rất đặc biệt: “Pháp văn”.
     (Người ta thường dùng danh từ Âm như là cái gì
đó có tánh cách tiêu cực (négatif) và Dương như một
cái gì có tánh cách tích cực (positif). Danh từ tiêu cực
mà các nhà khoa học đã dùng trước đây không xác
đáng, phải gọi là “cathode” (âm cực), vì theo ngữ căn
của nó, có nghĩa đi xuống (mà Dịch gọi là “Âm
giáng”, lại cũng có nghĩa là “đẻ ra” (engender). Từ
chỗ âm cực (cathode) xuất hiện những “điện tử”
(électrons). “Cathode” là nguồn gốc (như Bà mẹ) sinh
ra những hiện tượng lạ lùng đã làm thay đổi những
quan niệm vật lý cách đây đã lâu. Nó là nguyên lý Âm
(Principe Maternel) mà nhà Lão gọi là Huyền tẩn:
Huyền tẩn chi môn, thi vị thiên địa căn. Thiếu âm, vạn
vật không tồn tại.
     Cái thói quen gọi Âm trước Dương sau, là căn cứ
vào lý do cuộc chuyển hóa Vũ trụ bắt đầu sinh trong
bóng tối và âm lạnh (Đông Chí, hướng Bắc, canh
khuya): “Nhất dương sinh ở thời Tý”.
                             *
Trích từ (DỊCH HỌC TINH HOA ) Nguyễn Duy Cần 

Thứ Năm, 5 tháng 2, 2015

Thiên nhân tương ứng




Tôi có duyên với kinh dịch từ thời còn học phổ thông ! Có lẽ do sách vở ngày xưa rất đắt đỏ mà nhu cầu đọc của tôi lại nhiều nên sách này đến với tôi một cách tình cờ , dù rằng lúc đó đọc xong chưa hiểu được gì nhiều . Chỉ cảm nhận được nó hay mà thôi ! Có lẽ do cơ duyên này nên tôi hiểu và thường sống với cái mà các nhà nghiêng cứu viết sách gọi là học thuyết ( THIÊN NHÂN TƯƠNG ỨNG ) rất sớm .
Tôi cũng có cặp mắt nhìn cuộc sống khác với lẽ thường tình của số đông con người trong xã hội ! VD: Có một người đàn bà nấu những món ăn thông thường cho nhưng người thân họ ăn . Người thân họ chê họ nấu dỡ không biết nấu ăn , đó là ý kiến của số đông con người trong xã hội cho là vậy . Nhưng đối với tôi thì đó là người đàn bà xấu tính xấu nết , đầy lòng dục vọng ích kỷ . ( Chỉ đối với nhìn nhận của tôi thôi nhé các bạn đọc giả ) Với tôi bây giờ đã thấy là như thật . Chẳng còn phần biệt đúng hay sai nữa . Nên có gì trái nghịch với tư duy thông thường của quý đọc giả thì xin bỏ qua cho tôi nhé . Tôi chỉ giới thiệu thêm một phần nào đó sự thật của cuộc sống mà thôi . Tin hay không là quyền ở các bạn . Không ai ép các bạn tin cả !

CHUYỆN MAO TRẠCH  ĐÔNG VỚI THUYẾT ( Thiên nhân tương ứng )

Mao Trạch Đông (1893-1976) là lãnh tụ tối cao của Đảng Cộng sản Trung Quốc, người đã lãnh đạo nước CHND Trung Hoa từ năm 1949 đến 1976. Qua lời kể của Tiểu Mạnh, người hộ lý phụ trách chăm sóc sức khỏe, gắn bó với Mao Chủ tịch suốt 20 năm, nhà văn Trung Quốc Quách Kim Vinh đã tái hiện lại hình ảnh ông trong những ngày tháng cuối đời.

Điểm cuối cuộc đời
Lại là một buổi chiều tàn nhạt nắng. Căn phòng ngủ rộng rãi vẫn lặng lẽ như bao ngày. Mao Trạch Đông nửa nằm nửa ngồi trên chiếc giường rộng. Không biết cuốn sách gì đã thu hút ông khiến đã hơn một tiếng đồng hồ rồi ông không động đậy.
Tiểu Mạnh ngồi trên xa lông, đang lật xem báo ngày hôm ấy. Có lẽ tiếng động nhỏ do cô lật báo đã làm kinh động Mao Chủ tịch, hoặc cũng có thể ông cảm thấy mệt mỏi. Ông xoay người trên giường, thuận tay đặt sách sang một bên. Sau đó, ông cất giọng đặc sệt ngữ âm Hồ Nam: “Báo hôm nay có tin gì mới đọc cho tôi nghe, nhưng mà tôi không muốn nghe những thắng lợi lớn trong đại phê phán gì đó, chỉ muốn nghe tin tức thôi”.
Tiểu Mạnh đọc: “Tân Hoa Xã ngày 21-4-1976: Vừa rồi, ở địa khu Cát Lâm Đông Bắc nước ta đã xảy ra một trận rơi thiên thạch rất hiếm thấy trong lịch sử thế giới. Chiều 8-3 năm nay, một hòn thiên thạch trong vũ trụ thuận theo chiều xoay của Trái đất quay quanh Mặt trời với tốc độ hơn 10 km/giây đã rơi vào tầng khí quyển địa cầu. Do lực ma sát kinh hồn với tầng khí quyển dày đặc nên khi bay đến không gian địa khu Cát Lâm, hòn thiên thạch này đã phát sáng, bốc cháy trở thành một quả cầu lửa khổng lồ và vào lúc 15 giờ 1 phút 59 giây đã phát nổ lớn trên vùng hợp tác xã Kim Châu ngoại ô Cát Lâm”.
Đang đọc, Tiểu Mạnh bỗng thấy Mao chủ tịch đột nhiên ngồi hẳn dậy, đây là chuyện chưa từng xảy ra. Rất nhiều lần đọc báo cáo, văn kiện, báo chí, Mao Chủ tịch chỉ lặng lẽ nghe mà thôi, rất ít khi phát biểu ý kiến, cũng rất ít khi thay đổi tư thế nằm hoặc ngồi.
Tiểu Mạnh đọc xong bản tin, vừa muốn đọc một tin khác thì Mao Chủ tịch vội nói: “Cô đọc đến đây thôi, đừng đọc thêm nữa”. vừa nói, ông vừa xỏ chân vào giày, Tiểu Mạnh vội chạy đến đỡ ông đi ra phía trước.
Xem ra, Mao Trạch Đông đang bị vây phủ bởi một trạng thái tinh thần khác thường. Trên mặt ông xuất hiện một vẻ lo lắng, bất an, kích động. Ông bảo Tiểu Mạnh mở rèm cửa sổ ra, đây cũng lại là một yêu cầu rất hiếm khi. Mao Chủ tịch đứng bên cửa sổ nhìn ra thật xa nơi tịch dương dần lặn, ông nhìn rất lâu, như nhập thần, như hóa đá. Đến khi thấy chủ tịch xoay người lại, Tiểu Mạnh vội hỏi: “Thưa Chủ tịch, trên trời sao lại trong chốc lát rơi xuống nhiều đá như vậy? Cũng thật may, không có ai bị thương”.Hình ảnh chỉ có tính minh họa !

Mao Chủ tịch trầm ngâm một lát rồi nói: “Việc này trong lịch sử xảy ra nhiều rồi, không phải mới, chính sử chép cũng không ít, dã sử chép càng nhiều”. Xem ra chủ tịch hứng thú với vấn đề này. Ông lại hỏi Tiểu Mạnh: “Những ghi chép về mưa thiên thạch cô có đọc qua chưa? Những người trong nhà có nói gì không?”.
Tiểu Mạnh lắc đầu: “Tôi chưa từng đọc qua. Lúc nhỏ có nghe mẹ tôi kể rằng ở thôn gần làng tôi vào một đêm nọ bỗng nhiên rơi xuống một khối đá lớn như cái cối xay. Về sau khối đá này lại bị gió cuốn đi mất. Chà, thật là hoang đường, tôi không tin được”.
- Ồ, chuyện mẹ cô kể mà cô còn không tin ư?
- Tôi không tin, chủ tịch có tin không?
- Tôi thì tin đấy, Trung Quốc có một thuyết gọi là “Thiên-nhân cảm ứng”. Thuyết ấy nói rằng trong nhân gian sắp xảy ra một sự biến đổi lớn nào đó thì đại tự nhiên cũng sẽ biểu hiện ra, dự báo trước cho con người. Việc lành thì hiện điềm lành, việc dữ thì hiện điềm dữ”.
Mao Chủ tịch nói đến đây, dừng lại một lát rồi tiếp tục:
- Trời rung đất chuyển, trên trời rơi xuống đá lớn, đó là điềm báo chết người vậy. Trong Tam Quốc diễn nghĩa, khi Gia Cát Lượng, Triệu Vân... qua đời đều có xảy ra các hiện tượng sao rụng đá rơi, gãy cột cờ. Những danh nhân, đại nhân vật đúng là không giống người thường, khi chết cũng phải chết có thanh có sắc, không như bình thường”.
Mao Chủ tịch nói những lời này đầy vẻ cảm khái, có chút kích động. Ông tựa hồ trấn áp cơn kích động, lấy lại giọng bình tĩnh:
- Nhưng nếu ai chết cũng đều rơi đá thì sợ rằng địa cầu đã nặng đến mức không thể quay nổi...
Mao Chủ tịch đi lại mấy bước trong phòng rồi ngồi trên xa lông, hỏi Tiểu Mạnh: “Tôi nói những điều này, cô có tin không?”. Tiểu Mạnh hỏi ngược lại: “Đại nhân vật lúc sắp mất, trên trời sẽ rơi xuống đá lớn, chủ tịch tin thế thật sao?”.
Mao Chủ tịch không trả lời ngay, ông trầm tư một lát mới nói: “Tại sao cổ nhân lại bịa đặt ra những chuyện này?”. Ông nói, giống như trả lời mà cũng như hỏi...
Trận mưa thiên thạch khủng khiếp kể trên khiến dư luận trong dân gian không ngớt bàn tán. Người ta cho rằng 3 viên thiên thạch lớn nhất là điềm báo trước 3 nhân vật trọng yếu nhất Trung Quốc qui thiên: đó là Chủ tịch Mao Trạch Đông, Thủ tướng Chu Ân Lai và Tổng tư lệnh Chu Đức, đều qua đời vào năm 1976. Còn những thiên thạch nhỏ tượng trưng cho những người chết trong vụ động đất kinh hoàng ở Đường Sơn xảy ra vào ngày 28-7-1976 làm 24 vạn người chết, 16 vạn người bị trọng thương...
Nếu là một người đã sống và nhập vào cái gọi là ( THIÊN NHÂN TƯƠNG HỢP ) rồi thì chẳng còn lạ lùng gì nữa với những cái mà khoa học gọi là huyền bí và lạ lùng sau đây nữa !
Tư tưởng con người có thể tác động đến máy móc

Tiến sỹ William Tiller (bên phải); Ảnh nền: Mô hình ý thức của con người (Ảnh: Shutterstock*)
Vũ trụ chứa đầy những điều bí ẩn và thách đố tri thức của nhân loại. Bộ sưu tập những câu chuyện “Khoa học Huyền bí” của Thời báo Đại Kỷ Nguyên về những hiện tượng lạ thường đã kích thích trí tưởng tượng và mở ra những khả năng chưa từng mơ tới. Chúng có thật hay không? Điều đó tùy bạn quyết định!
Là một trong những nhà khoa học danh tiếng, Tiến sỹ William Tiller, giáo sư khoa kỹ thuật và khoa học vật liệu tại đại học Stanford vào năm 1996, đã có vô số các báo cáo khoa học được xuất bản trên các tạp chí uy tín. Song ông đã bị phản đối kịch liệt khi bắt đầu nghiên cứu về lĩnh vực mà giới khoa học cho làđiên rồ
Ông đã bị cuốn hút bởi các nghiên cứu của các nhà khoa học Xô Viết về khả năng tâm linh của con người. Ông biết rằng các đồng nghiệp của ông cho đây là một đề tài phi lý, nhưng ông đã tự hỏi bản thân: “Làm thế nào vũ trụ này được tạo ra lại cho phép những thứ vớ vẩn ấy đồng thời tồn tại với khoa học chính thống. Ngày nào mình chẳng làm việc với các Tiến Sỹ ở đại học Stanford?”
Sau đó, ông đã giảm tải khối lượng công việc ở Stanford để dành thời gian nghiên cứu riêng, nhằm tìm lời giải đáp cho câu hỏi quan trọng trên. Các đồng nghiệp của ông đã  cố gắng can thiệp ngăn cản ông thực hiện nghiên cứu này.
Tiến sỹ Tiller đã không nản lòng. “Có hàng nghìn người trong 150 năm qua đã hoàn thành nhiều nghiên cứu phi thường về phạm trù siêu tâm lý học, và đều bị khoa học chính thống quăng xuống gầm bàn, bởi vì những kết quả ấy không nhất quán với kết quả của họ. Bất cứ thứ gì không phù hợp với các kết quả và phương pháp luận chính thống, thì đều bị coi là rác rưởi”.
Tuy nhiên, cả cách thức và điều mà ông Tiller khám phá ra có thể thay đổi hệ thuyết vật lý vũ trụ của ông Copernicus.
Thời báo Epoch Times đã trao đổi với Tiến sỹ Tiller về cách ông phát triển máy móc giúp thu giữ và phát ra ý tưởng mà ai đó gửi đến.
Mặc dù vậy ông Tiller không biết nó hoạt động chi tiết cụ thể như thể nào. Ông chỉ biết nó đã hoạt động. Vậy làm cách nào ông biết được nó đã hoạt động?
Đầu tiên, Tiến Sỹ Tiller đưa ra bằng chứng về ý thức của con người có thể làm thay đổi nồng độ PH trong nước (mà không bổ sung hóa chất) hay thay đổi số lượng đơn vị phân tử của sự trao đổi năng lượng trong tế bào (ATP) trong ruồi giấm (và do đó giúp loài vật này trưởng thành nhanh hơn).
Tiếp theo, ông chứng minh các đối tượng thử nghiệm có thể trực tiếp gửi ý định điến Thiết bị Lưu trữ Ý định (IHD) và sau đó thiết bị này có thể phát ra ý định đã thu được. Kết quả này cũng tương tự khi không có sự hiện diện của con người. Nó có thể thu và phát lại ý định!
Cốc nước (Ảnh: Istmylisa/iStock/Thinkstock), ruồi giấm (Ảnh: Et_engineer/iStock/Thinkstock) và người đàn ông đang tập trung gửi ý định đến cốc nước và con ruồi giấm (Ảnh: G-stock Studio/iStock/Thinkstock)
Nhưng nếu ông không có một quá trình ghi lai cách thức thiết bị này hoạt động, làm cách nào ta biết  ông là người sử dụng nó đầu tiên trên thế giới? Tại sao Tiến sĩ Tiller dùng thiết bị này mà không phải là một lò nướng bánh, một đồng hồ báo thức, hay bất kỳ thiết bị điện tử nào khác để thử nghiệm nắm bắt một ý định cụ thể?
Ông đã làm các nghiên cứu truyền thống không liên quan đến ý định của con người. Thiết bị này đã từng được sử dụng trong những nghiên cứu cho một mục đích thông thường hơn. Trong một phút ngẫu hứng, ông Tiller quyết định sử dụng nó cho các thí nghiệm về ý thức chỉ để cho vui. Và không ngờ nó đã hiệu quả!
Kỳ lạ hơn, Tiến sĩ Tiller cho rằng đây không phải là thiết bị ông có thể sử dụng cho nghiên cứu thông thường của mình. Một lỗi của nhà sản xuất đã dẫn đến thiết bị không chính xác. Khi nhận được những tín hiệu ban đầu, nó không hoạt động như một IHD. Không có thiết bị khác để thay thế nên thiết bị đặc biệt này đã đến với ông một cách tình cờ mà ông đã thích thú quyết định thử nghiệm nó với ý thức con người, hoạt động như một IHD.
Ông nói: “Tôi nghĩ lỗi đó là một sai lầm tuyệt diệu”.
Sau khi thử nghiệm chính thức, ông bắt đầu nghiên cứu nghiêm túc về nó. Ông đã vượt ra hẳn vấn đề thay đổi độ pH của nước. Ông nói rằng ông đã giúp tăng cường các kỹ năng và hòa nhập cho 34 trẻ tự kỷ với những ý định tốt mà thiết bị phát ra. Ông đã tóm tắt một số những thành quả các thiết bị này đã đạt được trong một email gửi tới thời báo Epoch Times như sau:
  1. Giảm thiểu trầm cảm và lo lắng cho hàng trăm người, cách máy phát khoảng 1500 dặm, ở mức p <0,001 trong khoảng thời gian tám tháng.
  2. Tăng cường các bộ kỹ năng và hòa nhập của 34 trẻ em tự kỷ khắp nơi trên thế giới, đồng thời thuyên giảm trầm cảm và lo âu của các bậc cha mẹ của chúng tại mức p <0,001 trong thời gian 12 tháng.
  3. Bắt đầu một thử nghiệm với 74 người tại Hoa Kỳ giúp họ bỏ qua sự tự phán xét, đề cao lòng từ bi của bản thân và cho người khác.
Việc phát triển các thiết bị đã được sinh ra bởi một sự trùng hợp như đinh mệnh đã định trước. Ông đã sử dụng thiền định để tạo nên bước ngoặt trong hiểu biết của mình về sự tồn tại vật chất của ý thức con người và các cấp độ tồn tại khác trong vũ trụ. Điểm khởi đầu của ông tách biệt hẳn với nghiên cứu truyền thống, nhưng nó lại như một cầu nối giữa khoa học thực nghiệm và các thử nghiệm điên rồ, sau đó ông đã tập trung theo đuổi các nghiên cứu khoa học truyền thống hơn.
Khi bắt đầu nghiên cứu các ý định, ông tập trung vào suy nghĩ về bí ẩn vũ trụ trước một giờ thiền định hàng ngày của mình. Khi xuất hiện các khái niệm mới, ông sẽ xem xét liệu những khái niệm đó có vi phạm bất kỳ nguyên tắc khoa học hiện tại hoặc dữ liệu thực nghiệm nào không. Ông phát hiện ra rằng chúng không hề bất đồng.
Không gian chân không không hề rỗng
Không gian chân không thường được cho là trống rỗng, nhưng Tiến sĩ Tiller phát hiện thực ra nó chứa đầy những vật chất vô cùng mạnh mẽ mà con người không thể nhìn thấy. Ông đã khám phá ra ý định của con người ảnh hưởng đến chất vô hình này. Một chất bên trong này tồn tại dưới dạng hạt mà ông gọi là deltrons được kích hoạt và ảnh hưởng đến các vật chất mà chúng ta có thể nhìn thấy. Đó là cách ông có thể quan sát và đo lường tác động của ý thức của con người lên các vật chất không bị phát hiện này.
Sức mạnh trong không gian chân không là vô tận.
Tiến sĩ Tiller giải thích: “Để cơ học lượng tử và thuyết tương đối phù hợp nội tại với nhau [các nhà vật lý lý thuyết đã vật lộn tìm kiếm sự thống nhất giữa cơ học lượng tử với thuyết tương đối kể từ khi cơ học lượng tử ra đời], các vật chất chân không chứa đến 10^94 gram năng lượng trên mỗi cm khối. Điều đó có nghĩa là, nếu bạn chỉ lấy ra một nguyên tử hydro duy nhất, bao gồm một proton, một electron và tất cả các phần còn lại của nguyên tử là không gian trống rỗng. Nếu bạn chỉ lấy ra từng đó khối lượng của không gian trống rỗng, bạn đã có một nghìn tỷ lần so với năng lượng chân không của tất cả các năng lượng điện từ ở trong tất cả các hành tinh, tất cả các ngôi sao, và tất cả các bụi vũ trụ trong một hình cầu có bán kính 15 tỷ năm ánh sáng”.
Tóm lại, năng lượng vi tế trong không gian chân không của một nguyên tử Hydro cũng lớn bằng năng lượng điện từ được tìm thấy trong tất cả mọi thứ trong vòng 15 tỷ năm ánh sáng trong thời gian và không gian vũ trụ chúng ta. Hơn nữa, ý thức của con người có thể tác động đến lĩnh vực rộng lớn này. Nhưng khoa học thông thường lại xem nó là không gian trống rỗng.
Tiến sĩ đưa ra một phép suy luận để minh họa cho những khả năng có thể xảy ra khi một nhóm người gắn kết. Khi chúng ta phát ra một ý định nhất quán: “Nếu bạn nhìn vào một bóng đèn 100-Watt, nó mang lại một chút ánh sáng, nhưng không nhiều. Đó là bởi vì các hạt photon phát ra triệt tiêu nhau, làm giảm lượng ánh sáng. Nhưng đối với một số loại photon phát ra trong một đơn vị thời gian, nếu bạn có thể liên kết với chúng để chúng… có cùng pha với nhau, thì mật độ hoặc cường độ năng lượng xuất ra trong cùng một đơn vị thời gian của các bóng đèn sẽ lớn hơn số lượng photon trên bề mặt của mặt trời”.
Ông nói: “Con người có tiềm năng phát triển ý thức tiềm tàng của mình, họ chỉ cần phát triển nó, tiềm năng ấy là tương lai của chúng ta. Điều đó giải thích lý do tại sao tôi đi con đường này, giống như từ bỏ một tương lai vàng cho bản thân mình để làm điều kỳ lạ. Nhưng tôi đã hiểu được, đây là một tương lai tươi sáng hơn cho nhân loại”.
Nếu bạn thấy bài viết hay, hãy chia sẻ nó với bạn bè
(Trích từ đây)

Thứ Tư, 4 tháng 2, 2015

Bốn phẩm cách cổ nhân xem trọng


Bốn phẩm cách cổ nhân xem trọng


Thiên Đạo thù cần (Đạo trời đền đáp cho người cần cù phấn đấu vươn lên)
Câu nói “Thiên Đạo thù cần” (Đạo trời ban thưởng đền đáp cho người cần cù phấn đấu) lấy từ lời trong quẻ bói của điển tích «Chu Dịch » “Thiên hành kiên, quân tử dĩ tự cường bất tức” (Trời hành theo đạo kiện toàn, người quân tử đi theo đạo không ngừng tự vươn lên); Và sách «Thượng Thư» cũng có viết: “Thiên Đạo thù cần”, đã nói rõ ràng chân lý nhân sinh (đời người) là sự siêng năng xoay chuyển nghịch cảnh.
Tăng Quốc Phiên là một vị quan nổi tiếng của triều đại nhà Thanh trong thời kỳ “Đồng Trị Trung Hưng”[1], tư tưởng tu dưỡng của ông đã cổ vũ khích lệ cho hậu thế, nhưng tư chất bẩm sinh mà trời ban cho ông lại không cao. Thời thiếu niên ông ở nhà đọc sách, có một tên trộm ẩn nấp trên xà ngang của nhà ông, hy vọng đợi Tăng Quốc Phiên sau khi đi ngủ sẽ lấy ra được vài thứ tốt. Tuy nhiên đợi và đợi mãi, Tăng vẫn không ngừng lật qua lật lại đọc bài văn đó. Tên trộm nổi giận, nhảy ra và nói “ Với trình độ của nhà ngươi thì đọc được sách gì?”, lập tức đọc thuộc lòng một lượt những bài văn này, rồi nghênh ngang bỏ đi.
Tăng Quốc Phiên không vì vậy mà nản chí, không những thế ông càng siêng năng hiếu học, cuối cùng đã trở thành một vị danh nhân nổi tiếng một thời, mà tên trộm thông minh kia thì vùi lấp trong dòng sông dài của lịch sử .
Địa Đạo thù Thiện (Đạo của Đất ban thưởng cho người thiện lương)
“Địa Đạo thù thiện” đến từ lời trong quẻ bói của «Chu Dịch»” Địa thế Khôn, Quân tử dĩ hậu đức tải vật”, ngụ ý khuyên người hành thiện, gặp hung hóa lành.
Vào thời Xuân Thu, Triệu Thuẫn tại Ế Tang nhìn thấy một người sắp sửa bị đói chết, Triệu Thuẫn cấp cho anh ta thực phẩm. Người bị đói lại chỉ ăn một nửa đồ ăn, Triệu Thuẫn hỏi anh ta nguyên do vì sao, người bị đói nói muốn đem đồ ăn này giữ lại cho mẹ anh ta. Triệu Thuẫn cảm thương cho lòng hiếu thảo, để cho anh ta ăn uống thỏa thích, ngoài ra còn chuẩn bị một rổ cơm và thịt đem về.
Về sau Tấn Linh Công tập kích mưu sát Triệu Thuẫn, trong trận chiến kich liệt có một vị võ sĩ của Tấn Linh Công đột nhiên đánh ngược trở lại, cứu thoát Triệu Thuẫn. Triệu Thuẫn trong tâm lo sợ ấp úng hỏi anh ta vì sao làm như vậy, anh ta trả lời: “ Tôi chính là người bị đói vào năm khi đó tại Ế Tang.” Khi Triệu Thuẫn lại hỏi tên họ của anh ta, người võ sĩ không nói mà bỏ đi. Nguyên lai người võ sĩ bị đói ấy tên gọi là Linh Triếp, là một trong những hiệp sĩ nổi tiếng trong thời đại Xuân Thu.
Thương Đạo thù Tín (Đạo của Thương nghiệp ban thưởng đền đáp cho người giữ chữ Tín)
“Thương Đạo Thù Tín” đến từ «Luận Ngữ» “ Dân vô tín bất lập” (Người không giữ chữ tín, không có uy tín thì không có nơi lập thân), phản ánh sự thành thật uy tín trong kinh doanh buôn bán, thì mọi việc đều thuận lợi. Hồng đỉnh thương nhân[1] Hồ Tuyết Nham vì là quan viên mà khởi nghiệp kinh doanh, vì là quan viên mà kinh doanh thịnh vượng, cũng vì là quan mà thương nghiệp của ông ta suy bại. Cho dù là sau khi đế chế kinh doanh của ông ta gặp đả kích mang tính hủy diệt, nhưng tên hiệu thuốc của ông lại vẫn đứng vững không đổ cho đến tận hôm nay.
Nguyên nhân sâu xa trong đó, công lao của ông quy về vào thời đầu khi mới sáng lập tiệm thuốc, đã lấy sự ”Thành Tín”làm căn bản dưng lập nên, bán thuốc hàng thật đúng giá. Ví như chế tạo “Kim Lộc Hoàn”, phương thuốc này cần lấy hơn 30 loại của hươu. Vì để bảo đảm chất lượng nguyên liệu, Hồ Tuyết Nham không tiếc bỏ vốn gốc ra mở một bãi đất nuôi dưỡng hươu, để đảm bảo về chất lượng nguyên liệu.
[1].Hồng đỉnh thương nhân đầu tiên là chỉ thương nhân triều Thanh Hồ Tuyết Nham, về sau là để chỉ những người thương nhân đồng thời kiêm thân phận quan viên, hoặc có quan hệ tốt đẹp với quan viên cao cấp, và có thể ảnh hưởng đến các chính sách của chính phủ. (Theo: Wiki)
Nghiệp Đạo thù Tinh (Đạo của nghề nghiệp sở học ban thưởng cho người dốc lòng chuyên tâm tinh tiến)
“Nghiệp đạo thù tinh” đến từ điển tích «Tiến Học Giải» của Hàn Dũ “Nghiệp tinh vu cần, hoang vu hi” (Nghiệp học tinh thông đối với người cần cù, nhưng lại hoang phế trong sự vui chơi cười đùa) , biểu thị rõ cần cù học hành khổ công luyện tập, học thuật nghề nghiệp tất sẽ tinh tiến.
Khi Vương Hiến Chi 78 tuổi, đi theo phụ thân là Vương Nghĩa Chi học tập thư pháp. Có một lần ông xin cha chỉ dạy bí quyết then chốt của Thư Pháp, Vương Nghĩa Chi đưa tay chỉ vào 18 thùng nước lớn ở trong vườn, nghiêm túc nói: “ Bí quyết viết chữ, chính là trong những thùng nước này, con đem 18 thùng nước lớn này viết vào đó, sau khi viết xong thì sẽ hiểu rõ.”
Vương Hiến Chi đã kiên trì như vậy không giải đãi cần cù học tập khổ luyện, cuối cùng đã viết khô cả 18 thùng nước, trình độ Thư Pháp của ông không những kế thừa thành tựu thư pháp tu dưỡng của phụ thân, mà cũng đã khai sáng một thời đại với tình cảnh mới.
Theo secretchina.com

Thiệu Ung – Bậc thầy triết học và thiên văn học Trung Hoa


Nhân vật lịch sử: Thiệu Ung – Bậc thầy triết học và thiên văn học Trung Hoa


Thiệu Ung (1011-1077) là một nhà triết học, nhà thơ, và nhà vũ trụ học của triều đại Bắc Tống. Ngay từ khi còn trẻ, ông đã bộc lộ trí thông minh khác thường và quyết tâm thấu hiểu các quy luật tiến hóa của vũ trụ.
Cái tên “Thiệu Ung” không được nhiều người dân Trung Quốc biết đến bởi ảnh hưởng từ cuộc Cách mạng Văn hóa, nhưng ông là một trong những nhân vật nổi bật nhất của Nho giáo Trung Hoa. Một số câu nói của ông vẫn còn lưu truyền đến ngày nay, như: “nhất thiên đích kế hoa tại vu tảo thần đích quyết định, nhất niên đích kế hoa tại vu xuân thiên đích quyết định, nhất sinh đích kế hoa tại vu cần lao đích quyết định” (Kế hoạch cho một ngày bắt đầu vào buổi sáng. Kế hoạch cho một năm bắt đầu từ mùa xuân. Kế hoạch cho một đời bắt đầu bằng sự siêng năng)
Tư tưởng giáo dục tân tiến
Là một trong 5 học giả lớn của Bắc Tống (Bắc Tống ngũ tử), Thiệu Ung cùng với Chu Đôn Di, Trương Tái, Trình Hạo, và Trình Di thành lập Tống Minh Lý Học. Đây được coi là bước ngoặt lớn trong sự phát triển của Nho giáo Trung Hoa.
Trong số 5 học giả xuất sắc nói trên, thì có lẽ Thiệu Ung là nhân vật bí ẩn nhất. Những nghiên cứu và đóng góp của ông đối với Tống Minh Lý Học là vô cùng độc đáo và khác biệt so với những bậc học giả còn lại. Đó là nhờ sự thấm nhuần Đạo giáo, cùng với việc thực hành và nghiên cứu về công năng và các hiện tượng siêu nhiên.
Tác phẩm tiêu biểu nhất của Thiệu Ung là “Hoàng Cực Kinh Thế”. Trong cuốn sách này, ông đã minh họa chân lý cuộc sống thông qua các khía cạnh của Thái Cực, Đạo, Âm và Dương, Thiên và Địa, Thần và Nhân, v.v., để giải thích nguồn gốc và sự phát triển của vũ trụ, trong đó bao gồm cả thế giới nhân loại.
Những yếu tố nói trên là nền tảng của Tống Minh Lý Học. Từ triều đại nhà Tống đến cuối thời nhà Thanh, nhiều bậc học giả đã hoàn thiện thêm cho Tống Minh Lý Học dựa trên cái khung nền tảng được Thiệu Ung và bốn nhà sáng lập còn lại xây dựng.
Một cuộc đời khoa học và bí ẩn
Ở tuổi trung tuần, Thiệu Ung tách mình khỏi xã hội và lui về ở ẩn. Ông dành trọn thời gian để nghiên cứu, viết, và dạy học. Mặc dù thông thạo các văn tự cổ và văn thơ cổ điển, nhưng ông luôn khiêm tốn và hòa ái với những học giả khác. Mỗi lần ông đến một địa phương nào đó, các quan chức và nhóm tri thức sở tại lại muốn được vinh dự mời ông ở lại nhà. Hoàng đế cũng nhiều lần cho gọi Thiệu Ung để tiến cử ông vào một vị trí trong triều, nhưng ông chỉ kính cẩn chối từ.
Dựa trên các nguyên lý của Bát Quái trong “Kinh Dịch” và tư tưởng Đạo gia, Thiệu Ung đã tạo nên một hệ thống và học thuyết về vũ trụ của riêng mình.
Thiệu Ung tin vào số mệnh của vạn vật, và rằng mọi thứ đều có thể được liễu giải nếu thấu hiểu cách phân chia các yếu tố khác nhau thành con số. Theo Bách Khoa Toàn Thư Britannica, “tư tưởng toán học của Thiệu Ung cũng ảnh hưởng đến nhà triết học Châu Âu thế kỷ 18 là Gottfried Wilhelm Leibniz đối với việc phát triển hệ thống số học nhị phân”
Theo một số học giả, Thiệu Ung là bậc thầy về tiên tri và hậu tri (đoán biết quá khứ), những dự đoán của ông có độ chuẩn xác phi thường. Có một câu chuyện kể về khả năng trực giác huyền diệu nhưng bí ẩn của ông:
Một buổi sáng mùa xuân, Thiệu Ung dựng quầy xem quẻ số gần chân cầu. Lúc đó, một lão nông dừng lại và hỏi ông về tài vận của mình. Thiệu Ung yêu cầu ông lão chọn từ các mảnh giấy có ký tự chữ Hán trên đó. Ông lão bèn chọn một thẻ và đưa nó cho Thiệu Ung, trên đó là ký tự “?”. Thiệu Ung nói với ông lão: “Chúc mừng cụ, cụ sẽ được một bữa trưa ngon miệng ngày hôm nay. Cụ hãy về nhà và chờ đợi”.
Lão nông và Thiệu Ung (Jane Ku)
Ông lão trở về và thấy đứa cháu trai đang ngồi đợi mình ở nhà. Anh nói: “Hôm nay là ngày mừng thọ 60 của cha cháu, ông muốn mời cụ đến dự bữa tiệc và chén rượu chia vui”. Ông lão vô cùng ngạc nhiên, nhưng rồi cũng thay đổi y phục và vui mừng tới dự tiệc.
Chiều hôm ấy, một người đàn ông khác đến quầy quẻ số của Thiệu Ung và hỏi xem vận mệnh ông ta. Ông cũng chọn đúng thẻ có ký tự “?”. Thiệu Ung nói với người đàn ông rằng: “Thẻ này không được tốt. Sẽ có chuyện xảy ra với ông hôm nay và ông sẽ bị bắt giam”. Người đàn ông nghĩ ngay rằng không thể nào có chuyện ông bị bắt nếu ở trong nhà, vì vậy, ông trở về và leo lên giường.
Đột nhiên, ông tỉnh giấc khi có người đàn bà hét to lên rằng những con lợn của ông đang phá nát khu vườn rau của bà. Trong lúc bốc hỏa, ông giơ một cú đấm khiến người đàn bà kém may mắn, vốn đang ốm dở, ngã phịch xuống và bất đắc kỳ tử. Ngay sau đó, ông bị bắt và tống giam.
Cũng vào chiều hôm đó, khi Thiệu Ung chuẩn bị dọn quầy và về nhà, thì một người đàn ông đi từ phía Nam tới và xin ông nán lại. “Đại nhân, tôi đã nghe nói về tài năng tiên đoán của ngài, vậy xin ngài hãy cho biết vận mệnh của tôi”. Chiếc thẻ vị khách này chọn cũng là ký tự “?”. Thiệu Ung nói rằng đó không phải là dấu hiệu tốt, và rằng ông sẽ bị ướt đẫm trong ngày.
Tuy nhiên, hôm đó là một ngày nắng và không có mây, vì vậy người khách phớt lờ cảnh báo của Thiệu Ung và cưỡi ngựa về nhà của ông ở gần đó. Ngay khi vừa đến cổng, ông bị tưới đẫm người, bởi phu nhân của ông không biết ông vào nhà, đã vô tình hắt nước bẩn đúng lúc ấy.
Dự ngôn về Trung Quốc
Thiệu Ung cũng là một thi nhân. Một trong những kiệt tác của ông chính là 10 bài thơ trong tập “Mai Hoa Thi”. Nhiều người tin rằng tập thơ đã dự đoán chính xác những sự kiện chính trong lịch sử Trung Quốc.

Thiệu Ung không phải là quan viên hay tu sĩ, nhưng với những tác phẩm văn thơ bất hủ, cùng với tri thức uyên thâm về vũ trụ và thiên văn, Thiệu Ung đã có một ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng tinh thần và xã hội trong Trung Hoa thời xưa.
David Wu, Epoch Times
Biên tập: Hồng Liên